Trước
phong trào của quần chúng đua nhau tìm học khí công tự chữa bệnh để thay thế cho
cách chữa bệnh bằng thuốc hiện nay đã không thể nào tránh khỏi những phản ứng
phụ khiến cho cơ thể chưa khỏi được bệnh cũ lại mang thêm bệnh mới
do sự tương phản của thuốc làm cho mọi người càng ngày càng lo sợ mỗi khi có
bệnh. Đó là lý do tại sao thời đại ngày nay mọi người đều quan tâm tìm hiểu cách
chữa bệnh bằng khí công để thay thế thuốc.
Tuy
nhiên, không phải khí công nào cũng có thể chữa bệnh được. Chúng ta thường biết
đến khí công tài chi của Trung quốc rút ra từ võ thuật Thái cực quyền của Tổ sư
Trương tam Phong, kết hợp giữa khí công hơi thở và động tác theo biến động âm
dương trong thái cực đồ, loại này thích hợp cho người lớn tuổi tập luyện thể lực
bằng những động tác nhẹ nhàng chậm rãi dùng để dưỡng sinh, yoga cũng là loại khí
công tập thể lực nhẹ nhàng của Ấn độ, ngoài ra còn các loại khí công thuộc các
trường phái Lão học luyện hơi thở qua ba đan điền trên cơ thể tạo ra đời sống
toàn vẹn về vật chất, tinh thần và tình cảm của con người, ba yếu tố đó là
tinh-khí-thần, lấy tâm pháp diệt ái dục để tinh đầy đủ hóa thành khí, luyện khí
hóa thần, thần vững vàng không dao động sẽ hòa đồng nhịp sinh học với môi trường
thiên nhiên trong vũ trụ gọi là thần hoàn hư, thì thân nào mà bệnh tật, nên
phương pháp này còn gọi là phương pháp luyện đơn trường sinh. Trường phái Phật
học do Tổ sư Đạt Ma sáng lập mục đích cường thân kiện thể giúp thể lực khỏe mạnh
để tu tâm luyện tánh không trở ngại, ngoài võ công vừa nhu vừa cương, vừa có nội
lực ngoại lực, đó là võ thuật thiếu lâm, còn có loại khí công nhẹ nhàng cho
người lớn tuổi tăng cường thể lực là Đạt Ma Dịch cân kinh. Thần y Hoa Đà chế ra
môn khí công phòng bệnh và chữa bệnh gọi là Ngũ cầm hí ( hổ, báo, rồng, hạc,
rắn) để chữa bệnh phù hợp với ngũ tạng. Thiết bố sam khí công thịnh hành ở Trung
quốc khoảng năm 1000 trước công nguyên, mục đích vận khí trong gân cốt, có công
dụng tái sinh tủy xương sinh ra huyết cầu trong nội tạng và vận khí bảo vệ lớp
da thành mình đồng da sắt, sau này những người bán thuốc dạo thường áp dụng biểu
diễn kết hợp với múa quyền cước người ta gọi là sơn đông mãi võ.
Cho đến
ngày nay khí công trên thế giới đã phát triển lên đến hàng ngàn loại khác nhau,
nhưng tạm chia thành bốn loại, loại khí công yoga hoặc thiền, khí công võ thuật,
khí công dưỡng sinh phòng bệnh và khí công chữa bệnh. Riêng khí công chữa bệnh
có hai loại, loại khí công nội lực truyền khí từ thầy thuốc sang bệnh nhân giúp
bệnh nhân khỏe mạnh hết bệnh tật, loại khí công bệnh nhân được thầy thuốc hướng
dẫn phải tự tập lấy các bài tập riêng cho phù hợp với bệnh của tạng phủ mình
giúp cơ thể tự tạo ra thuốc từ hệ nội dược ( système endocrine ) để chữa bệnh,
loại khí công tự chữa bệnh này đang được ngành y trên thế giới nghiên cứu
.
Khí công bắt đầu được nghiên cứu ở nhiều quốc gia do các bác sĩ vừa am
tường phương pháp tây y, vừa nghiên cứu học hỏi đông y châm cứu, vừa luyện tập
khí công qua cách thở hoặc qua các động tác theo hơi thở thấy có kết qủa kiểm
chứng theo tiêu chuẩn tây y về những thay đổi của cơ thể bằng những thông số cân
đong đo đếm được thành phần máu cụ thể qua những kiểm nghiệm bằng máy móc và
bằng những biểu đồ điện tâm đồ, điện não đồ, điện phế đồ đo phế dung về tác dụng
có lợi ích của khí công . Ở Pháp có giáo sư bác sĩ châm cứu Nguyễn văn Nghi đã
viết, dịch và giảng dạy châm cứu theo kinh điển Hoàng đế nội kinh và viết về khí
công theo cách nhìn của một nhà khoa học thực nghiệm và Bác sĩ Nguyễn tối Thiện
thuộc nhóm Nghiên cứu và thực hành thiền quán ở Pháp cũng đã nghiên cứu những
lợi ích cho sức khỏe khi tập thở thiền. Ở Việt Nam có giáo sư bác sĩ Ngô gia Hy
người đã tập luyện khí công để tự chữa bệnh cao áp huyết cho mình khỏi bệnh và
sau đó vừa tập vừa thực nghiệm những kết qủa khi tập khí công qua những cách thở
khác nhau, đã mang lại cho chúng ta thêm niềm tin vào môn khí công nhờ vào những
công trình nghiên cứu của giáo sư thấy có lợi cho cơ thể đối với hệ hô hấp, tuần
hoàn tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ nội tiết, các tuyến hạch và đối với
giấc ngủ .Ngoài ra còn có những kết qủa nghiên cứu của Đại học Harvard, Tokyo,
và ở Viện Khí công trị liệu Trung quốc, cũng cho thấy khí công có thể chữa được
các bệnh sau đây :
Đối với hệ hô hấp :
Mỗi khi thay đổi cách
thở khác nhau đều làm thay đổi phế dung, cách thở khí công là chậm, nhẹ, sâu,
lâu, đều làm tăng chỉ số thông khí phổi từ 70-83 lít/phút, gọi là khí tăng cường
hay tông khí sẽ thúc đẩy toàn bộ các khí khác trong cơ thể hoạt động mạnh hơn,
chỉ có các vận động viên thể thao, người tập võ, tập thở khí công mới có tông
khí .Theo đông y, khi hít vào sâu tới bụng thì phổi đưa khí vào thận, khi thở ra
tông khí giúp phổi khuyếch tán ra da, và sự thay đổi nồng độ CO2, và Oxy cũng
thay đổi tăng hay giảm tùy theo cách thở và mục đích chữa bệnh, nên có cách thở
để bảo vệ da lông không cho thoát mồ hôi chống lạnh với môi trường bên ngoài như
thời tiết để phòng bệnh cảm cúm, có cách thở cho thoát mồ hôi giải nhiệt trong
bệnh sốt, có cách thở làm giảm tiêu thụ oxy làm cho cơ thể quen chịu đựng với
môi trường thiếu oxy, có cách thở cho tăng hấp thụ oxy để làm tăng hồng cầu, còn
nồng độ oxyde carbone tăng ở mức độ vừa phải gây hưng phấn trung tâm hô hấp có
lợi trong điều trị bệnh viêm phế quản kinh niên, suyễn, thở khó..
Đối
với hệ tim mạch :
Thở khí công quán tức, sổ tức, theo dõi hơi thở có thể
làm chủ hệ thần kin, tức gián tiếp kiểm soát hệ thần kinh thực vật, vì thở vào
làm hưng phấn hệ giao cảm và ức chế đối giao cảm, khi thở ra làm hưng phấn đối
giao cảm và ức chế giao cảm, do đó nếu thở vào thở ra lâu bằng nhau đông y gọi
là quân bình âm dương là làm quân bình chức năng nội tạng. Có những cách thở vào
nhiều hơn ra hoặc ra nhiều hơn vào, hoặc thở tăng nội lực có thì ngưng thở giữ
khí lâu hay mau giữa hai thì thở vào thở ra tùy theo mục đích cần chữa bệnh. Khí
thở còn tùy vào vị trí khí đến đâu trong ba vị trí của đan điền. Nếu thở bằng
ngực làm tăng nhịp tim trong giai đoạn thở vào và làm co thắt mạch ngoại biên.
Nếu thở bằng bụng thì ngược lại giảm xuất lượng tim và nhịp tim nhưng làm giãn
mạch ngoại biên. Nếu thư giãn làm tăng hiệu lực của thở bụng và cơ hoành ( nơi
đan điền thần ) làm tim đập chậm, giãn mạch ngoại biên có tác dụng làm hạ áp
huyết .Thì nín thở giữa hai thì thở vào ra làm chậm nhịp tim rõ rệt sẽ làm tăng
lượng máu vào tim và não. Như vậy tùy theo cách thở, qua những kết qủa thử
nghiệm khí công đã chữa được bệnh áp huyết cao, thất nhịp tim do thần kinh (
arythmie cardiaque d’origine nerveuse ) phong thấp các van tim (rhumatisme
valvulaire cardiaque ), bệnh huyết kết tĩnh mạch (thrombophlébite ).
Nếu
một người bệnh thở nhanh bằng ngực, hơi thở không sâu xuống bụng và hơi thở
không chậm như kiểu khí công sẽ làm giảm lưu lượng máu vào tim và não chứng tỏ
bất ổn về tâm thần do tác động xung kích từ bên ngoài và sẽ không kiểm soát được
cơ thể chống bệnh tật do môi trường bên ngoài xâm nhập, ngược lại thở bụng ở đan
điền thần, thể tích khí lưu thông cao khoảng 500 ml, càng xuống sâu dưới rốn (
đan điền tinh ) thông khí cao hơn nhiều nữa sẽ làm tăng nồng độ oxyde carbone
trong phế nang và làm tăng hoạt tính đối giao cảm, nhịp tim chậm lại, oxy và máu
vào tim, não nhiều hơn. Nếu kiểm soát được hơi thở sâu giúp tâm bình hóa giải
được tất cả xáo trộn khí huyết gây ra bệnh. Giả sử một người có bệnh khó thở,
hoặc bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ hồng cầu bạch cầu bất bình thường phải chỉnh bằng
thuốc để tăng hồng cầu, hoặc tăng hay giảm bạch cầu cho tình trạng trở lại bình
thường, nhưng hơi thở bất bình thường lại làm cho tỷ lệ máu không ổn định, thì
chính cách tập thở khí công làm thay đổi tỷ lệ oxy và oxyde carbone cũng có thể
tái lập quân bình trở lại bình thường. Vai trò của oxyde carbone rất quan trọng,
nồng độ cao vừa phải làm giãn mạch làm tăng lưu thông máu để oxygène hóa các mô,
đào thải những dị hóa acide có lợi, tăng oxy và máu cho não phòng chống lão suy,
chữa bệnh hay quên do thiếu máu não, làm mạnh cơ tim. Nếu thở bằng phổi, khí chỉ
ở phần ngực làm tăng thông khí phổi nhưng co thắt mạch não và co thắt mạch tim
và làm ức chế chuyển hóa oxygène từ huyết sắc tố sang tế bào làm thiếu máu não
và thiếu máu cho tim tuần hoàn, cho nên khi thấy một người bệnh chỉ thở phần
ngực trên sẽ không có tông khí, không đủ oxy cho tim và não, bệnh sẽ càng ngày
càng trở nặng, kiểm nghiệm kết qủa thành phần máu càng ngày càng tệ hơn, nhất là
những người có bệnh tim mạch hay bệnh mạch vành mà chỉ thở ngực làm co thắt mạch
vành dễ gây ra tình trạng nhồi máu cơ tim. Thở khí công là tập thở nhẹ bằng bụng
mà nhìn cơ hoành như không thở, mục đích không làm tăng thông khí phổi để không
ảnh hưởng đến nhịp tim, chỉ cần khí tụ tại đan điền tinh, ngược lại nếu cũng thở
vào bụng nhưng thở nhanh và sâu làm cho nhịp tim thay đổi lại có tác dụng đưa
lượng máu vào cơ xương và trán, nhưng giảm lưu lượng máu tuần hoàn ra tứ chi làm
tê các đầu tay và chân.
Trường hợp thở ra dài hơn thở vào theo hai thì
theo công thức 1-2 ( thở ra lâu gấp 2 lần thở vào) hoặc ba thì theo công thức
1-4-2 ( thì ngưng thở lâu gấp 4 lần thở vào) làm hưng phấn đối giao cảm và ức
chế giao cảm mục đích làm nhịp tim chậm lại, tăng lượng máu cho não và tim, và
giúp cho tâm được bình an.
Đối với hệ tiêu hóa :
Tập khí công
phải uốn lưỡi lên vòm họng trên để nối mạch Nhâm-Đốc ở phần trên gọi là thượng
kiều, còn nhíu hậu môn là nối mạch Nhâm-Đốc ở hạ kiều, khi cuốn lưỡi có lợi cho
chức năng tuyến nước bọt làm tăng cường bài tiết nước miếng giúp tiêu hóa thức
ăn ngay từ khi thức ăn vào miệng, giúp thận thủy biến thành thận khí lên gốc
lưỡi điều hòa hỏa khí của tim, giữ cho thân nhiệt bình thường, cổ họng không khô
khát và đầu lưỡi cũng là khiếu của tâm cuốn lên trên nối được dòng khí qua tuyến
tùng lên đỉnh đầu làm tăng cường hệ thần kinh điều khiển chức năng của phủ
tạng.
Khi hít thở bụng bằng tĩnh công hoặc động công cúi ngửa làm tăng
cường nhu động ruột sẽ kích thích mau đói, ăn ngon, ngược lại nếu một người bình
thường có bệnh ăn xong mà tiêu hóa chậm làm chán ăn thì sau khi tập khí công,
thức ăn trong bao tử được co bóp chuyển hóa nhanh.
Về phương diện dinh
dưỡng :
Bao tử chứa thức ăn, tỳ bao gồm tụy tạng sẽ chuyển hóa thức ăn, tỳ
mạnh thì ăn ngon, mau đói, chuyển hóa đường qua insulin và glucagon, tỳ suy ăn
mất ngon, no qúa làm tổn thương tỳ khí hại chức năng chuyển hóa sẽ bị bệnh tiểu
đường, còn đói qúa tổn thương vị khí.
Về phương diện huyết học :
Tỳ
vừa dẫn khí, thông huyết, chuyển hóa thức ăn thành huyết nuôi cơ bắp, tái tạo tế
bào. Khí của vị đi xuống là thuận khi thở vào, tỳ khí đi lên khi thở ra, nên
muốn mạnh vị khí cần thở vào nhiều, giúp chuyển hóa nhanh, cần thở ra nhiều hơn
thở vào sẽ làm hưng phấn đối giao cảm tăng tiết insulin, có lợi để chữa bệnh
tiểu đường bằng khí công thay thế thuốc chích insulin từ ngoài vào cơ thể.,còn
nếu muốn điều hòa quân bình khí của tỳ vị thì thở vào thở ra bằng
nhau.
Như vậy tập khí công đã chữa được những bệnh như ăn uống không
tiêu, no hơi sình bụng, ợ chua, bón kinh niên, loét bao tử và ruột non ( ulcère
gastro duodénal ), viêm bao tử kinh niên ( gastrite chronique ), viêm ruột mãn
tính ( entéro colite chronique ), viêm gan mãn tính ( cirrhose du foie), viêm
túi mật ( cholécystite ).
Đối với hệ thần kinh :
Tùy theo
phương pháp tập để hưng phấn hay ức chế loại thần kinh nào. Nếu quán tức ( theo
dõi hơi thở ) hoặc sổ tức ( đếm số hơi thở ) vào vùng đan điền nào (
tinh-khí-thần) và bằng cách dẫn khí, tụ khí ,dồn khí, đều làm thay đổi chức năng
thần kinh não, làm hưng phấn hay ức chế hệ phản xạ. Đối với khí công quan trọng
là điều tâm, điều thân, điều ý.
Dùng tâm kiểm soát hơi thở để làm chủ hệ
thần kinh thực vật, loại bỏ được những phản xạ nội cảm thụ hoặc ngoại cảm thụ
bất lợi cho cơ thể, điều tâm có tác dụng hưng phấn vỏ não ở một vùng theo ý muốn
và làm ức chế vỏ não ở vùng khác, nhưng ức chế hay hưng phấn không qúa ngưỡng để
thần kinh không bị căng thẳng, ức chế giác quan và cảm xúc để ngoại cảnh hay nội
cảnh không làm ảnh hưởng biến đổi xấu cho sức khỏe cơ thể. Điều thân và tĩnh
công ức chế phản xạ vận động cơ khớp .Điều ý gián tiếp ức chế hệ lưới và vùng
dưới đồi qua vỏ não giúp hạn chế hay loại bỏ phản xạ có hại cho cảm xúc. Khi bế
quan chuyển ý vào trong theo dõi sự sinh hóa chuyển hóa, như nhịp đập của mạch,
lực di chuyển của khí, nhiệt độ thay đổi từng vùng..lúc đó sẽ không bị ảnh hưởng
môi trường và ngoại cảnh bên ngoài tác động vào cơ thể khiến cho khí chạy loạn
gây xung động bên trong, tất cả khí của hơi thở lúc đó đang giúp ngũ tạng khí,
nguyên khí, chuyển hóa cốc khí thành vinh khí, vệ khí giúp cơ thể khỏe mạnh sung
mãn, tinh thần sảng khoái, tiêu trừ bệnh tật như thần kinh suy nhược (dépression
nerveuse), bệnh tâm thể (maladie psycho-somatique),loạn trương lực thần kinh
thực vật (dystonie neuro-végétative), tạng co giật (spamophilie), chứng ưu tư
(anxiété ), loạn tâm thần ám ảnh (névrose obsessionnelle ), đau nhức do thần
kinh (douleurs nerveuses ou d’origine mal définie), đau dây thần kinh (névralgie
faciale, intercostale), viêm dây thần kinh (névrite, polynévrite ), đau nhức
thần kinh gân cơ (fibromyalgie ).
Đối với giấc ngủ :
Giấc ngủ
và thở khí công có những điểm tương đồng là toàn thân buông lỏng làm giãn nở
huyết mạch ngoại biên, nhắm mắt yên lặng, thở nhẻ, đều, không bị ngoại cảnh chi
phối, nhưng khác nhau về kết quả, khí công chủ động tập trung tư tưởng cao loại
bỏ tạp niệm trong lúc tỉnh thức làm chuyển hóa cơ bản giảm, tim đập đều chậm,
thở thiền làm lắng đọng vọng tưởng, vọng niệm, thành kiến, ký ức, lo buồn sợ
hãi, và tỉnh thức sáng suốt để ghi nhận trực tiếp tất cả những nguồn rung động
bên ngoài và bên trong cơ thể. Tâm thức lúc đó đạt tới một trạng thái tự do
tuyệt đối không bị vẩn đục bởi phiền não, chấp ngã, chúng ta sẽ khám phá ra được
một thế giới nội tại bình an.
Khoa học đã ghi nhận được sự thay đổi của
sóng não trong 4 giai đoạn :
-Giai đoạn sóng Beta 13-20 hertz khi làm
việc.
-Giai đoạn sóng Alpha 8-13 hertz khi nghỉ ngơi.
-Giai đoạn sóng
Theta 4-7 hertz khi thiền còn tỉnh thức, nó cũng là giai đoạn buồn ngủ, hôn
trầm.
-Giai đoạn sóng Delta 1-3 hertz là giai đoạn ngủ sâu.
Quan sát
hơi thở một bệnh nhân nằm thở bình thường qua nhiều giai đoạn :
a-Giai đoạn
chưa tập trung ý vào hơi thở ( sóng beta ): Hơi thở không đều, ngắn hơi, nhanh,
đứt đoạn, đếm được 20-30 hơi trong một phút.
b-Giai đoạn thở đều (sóng
alpha): Hơi thở đều, ngắn, nhẹ, nhanh, cũng nhịp 20-30 hơi trong 1
phút.
c-Giai đoạn tập thở có ý thức, có kiểm soát ( sóng theta ): Khi mới
tập, hơi thở chưa đều nhưng thở sâu và lâu hơn, số lần thở giảm đi trong nửa giờ
đầu. Nếu còn tiếp tục tỉnh táo tập thở, số lần thở sẽ giảm nữa, khoảng 12 -16
hơi. Ngược lại, nếu rơi vào hôn trầm ( mê đi mà không hay biết ) sẽ đi vào giấc
ngủ ngon. Sóng Theta xuất hiện trên điện não đồ, tâm được bình an, thần kinh và
gân cơ thư giãn, giảm co thắt đau nhức. Nếu xét nghiệm hàm lượng lactose trong
máu khi ngủ sẽ giảm so với lúc thần kinh bị căng thẳng, khi xáo trộn tâm lý, hàm
lượng lactose trong máu tăng cao.
d-Trong trạng thái còn tỉnh thức để
theo dõi hơi thở, sẽ trở thành thói quen đều đặn, sẽ tạo được nhịp thở sinh học
6-8 hơi trong 1 phút, giúp khí huyết lưu thông đều, sự tiêu thụ năng lượng sẽ
giảm, không bị tiêu hao lãng phí, sự biến dưỡng căn bản (métabolisme basal)
xuống mức tối thiểu, ăn ngủ ít mà vẫn khỏe như các vị thiền sư
e-Giai
đoạn ngủ :
Sau khi tỉnh thức để theo dõi hơi thở ở giai đoạn sóng Theta, có
được nhịp thở sinh học 6-8 hơi trong một phút thì khi ngủ nhịp thở sinh học 6-8
hơi vẫn được duy trì. Đây chính là giai đoạn chữa bệnh bằng giấc ngủ có ý
thức.
Các nhà Yoga khi ngủ, chúng ta thấy hình như không thở, vì hơi thở
rất nhẹ, hơi vào như sợi chỉ chứng tỏ số lượng oxy vào ít, nhưng thiền, sự tiêu
thụ oxy trong cơ thể còn ít hơn so với khi ngủ, cho nên 1 giờ thiền có gía trị
bằng 2-3 giờ ngủ, và chúng ta cũng có thể giải thích tại sao các nhà yoga có thể
giam mình trong một hòm kín mà không chết ngộp. Điều đó chứng tỏ tập khí công
thiền làm cho nhịp tim chậm lại, làm giảm trương lực cơ và làm giảm áp
huyết.
Đối với hệ nội tiết :
Theo đông y và tây y, thận có vai
trò điều hòa áp huyết qua hệ thống renin-aldosteron. Renin do thận bài tiết,
angiotensin do gan bài tiết, aldosteron do tuyến thượng thận (thận dương) bài
tiết. Khi áp huyết bị giảm, thận tăng bài tiết renin làm tăng áp huyết bù trừ,
khi thận thiếu máu cục bộ làm renin tăng sẽ tăng áp huyết gọi là hội chứng tăng
áp huyết do thận.
Thận cũng bài tiết prostaglandin (P.G.E2) giãn mạch để
điều hòa lưu thông máu trong thận, điều hòa chuyển hóa nước và tái hấp thụ
natri, tuyến thượng thận hoạt động tốt theo đông y làm mạnh xương, đen râu tóc,
tăng tuổi thọ, thay đổi tế bào não chống lão hóa, theo đông y, nếu chức năng
thận âm, thận dương mạnh sẽ nuôi gan theo quan hệ mẹ con trong ngũ hành, có lợi
trong việc điều trị bệnh giác quan như viêm võng mạc (rétinite ),teo thần kinh
thị giác (atrophie optique), mất thể thăng bằng (trouble d’équilibre), suy thị
giác và thính giác không do chấn thương. Theo tây y tuyến thượng thận tạo
kalicrein làm giãn mạch, tạo dihydrocholecalciferol 1;25-(OH2)O3 có tác dụng
chuyển hóa calci lấy từ chất bổ của thức ăn, chất này giống như loại xúc tác
giúp chế biến thức ăn thành calci để nuôi xương, giống như trong cơ thể của động
vật trâu, bò, lừa, ngựa.. chỉ ăn cỏ khô, trong cỏ không có thành phần calci
nhưng nhờ chất tạo xương của tuyến thượng thận làm cho xương cốt phát triển cứng
mạnh, do đó đông y quan niệm muốn bổ xương phải bổ thận để tuyến thượng thận
mạnh sẽ chuyển hóa chất bổ của thức ăn thành chất xương, chất xương theo quan
niệm đông y không phải chỉ là chất bột calcium mà xương cứng, dẻo, bền, có sớ
chắc, nhờ ở Vitamine A-D có trong dầu cá, chất sulfure, phosphore có trong các
thức ăn như chuối, cá, mè đen..Ngoài ra đông y và tây y cũng coi trọng tuyến
thượng thận hay thận dương Mệnh môn làm tăng cường chức năng thận, điều hòa thận
thủy và tâm hỏa, điều hòa áp huyết và tăng sinh hồng cầu, huyết bản và sinh tủy
do chất erythropoietin có trong tuyến thượng thận. Chất cortisone được sản xuất
từ tuyến thượng thận khi cần thiết để chống viêm, điều hòa chuyển hóa nước, giữ
nước lại trong ngăn ngoại bào chuyển hóa protein, đường, và mỡ. Chất Dopamin
hoạt tính alpha co mạch ngoại biên, có hoạt tính beta đối với tim, làm giãn động
mạch thận làm tăng siêu lọc tiểu cầu, tăng bài tiết thải natri .
Một điều
kỳ diệu của đông y khí công vẫn thường áp dụng theo quy luật ngũ hành, con hư bổ
mẹ. Khi thận hư yếu không tạo ra xương và máu, tây y chữa trực tiếp vào thận
bằng cách tái tạo lại các chất mà tuyến thượng thận thiếu như chất cortisone,
chất adrenalin, dopamin..ngược lại đông y chữa bổ thận thủy là bổ phế kim mẹ của
thận, làm mạnh thận dương chính là hơi thở tông khí có được trong khi tập khí
công.
Nếu thở châm, nhẹ, sâu, lâu, đều xuống đan điền tinh, vùng huyệt
Khí hải hoặc Quan nguyên sẽ làm tăng chức năng khí hóa của chức năng thận âm và
thận dương..
Nếu hơi thở xuống Khí hải là biển khí nơi thu hút các âm
chất ( dưỡng trấp biến thành máu ) chuyển hóa thành khí chuyền qua Mệnh môn là
thận dương , vị trí nằm giữa hai qủa thận có thể ví như tuyến thượng thận của
tây y, mà theo tây y, tủy tuyến thượng thận bài tiết cathecholamin trong đó có
adrenalin và kích thích tố renin phối hợp với angiotensin ảnh hưởng đến tim mạch
và áp huyết, vỏ tuyến thượng thận, đông y gọi là thận dương tạo các kích thích
tố corticoide trong đó có glucocorticoide (một loại cortisone) để chuyển hóa
đường, chuyển hóa protein, mỡ, có tác động chống viêm hay dị ứng, có Menelano
corticoide (aldosteron) giúp chuyển hóa natri, kali, muối, nước, vôi, có kích
thích tố sinh dục androgen và estrogen.
Nếu hơi thở xuống tới huyệt Quan
nguyên là giao hội huyệt của can tỳ thận bị dồn nén sẽ kích thích thần kinh đối
giao cảm làm kích thích hệ sinh dục, ở người nam làm cương dương vật sẽ trổi dậy
sự ham muốn tình dục. Đối với bệnh sinh dục, tiết niệu như bất lực (impuissance)
,xuất tinh sớm (éjaculationprécoce), di tinh (spermatorré), đau bụng huyết (
dysménorrhée ) đều có thể chữa được bằng khí công. Tuy nhiên nếu tập khí công để
cường thân kiện thể tăng tuổi thọ, tinh thần minh mẫn thì không nên làm hao tổn
tinh khí, nên khí công chú trọng đến sự quân bình hơi thở âm dương điều hòa làm
cân bằng hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm để tiết dục để không hao tổn tinh
huyết, theo đông y 40g máu tạo 1g tinh, mỗi lần phóng tinh có vào khoảng 400
triệu tinh trùng thoát ra ngoài làm hao nội lực. Trong trường hợp âm chất chuyển
từ Khí hải sang Mệnh môn mà khả năng lọc của thận dương yếu không nhận hết, âm
chất sẽ đọng ở bụng làm thành mỡ và đờm.
Thận được ví như một nhà máy lọc
dầu tinh vi hiện đại, thì chỉ có dầu thô lỏng từ mỏ dầu đưa lên nhà máy, sau khi
lọc sẽ cho chúng ta nhiều sản phẩm từ lỏng sang thể hơi như săng dầu, acetone,
ether, thể đặc như nhựa đường, thể cứng như nhựa mủ làm ống nước, vì thế dưỡng
trấp trong thức ăn ở thể lỏng thô, thận là nhà máy lọc, nếu nhà máy lọc tốt sẽ
tạo ra chất đặc như xương tủy, tạo ra chất lỏng như huyết, hồng cầu, bạch cầu,
tạo ra chất khí vinh vệ giống như chất acetone, ether của nhà máy lọc dầu..nếu
nhà máy lọc hư yếu không đúng và đủ công suất để hoàn tất chức năng lọc thì tất
cả dưỡng trấp sẽ biến thành mỡ và đờm.
Đối với các tuyến hạch
:
Tuyến yên :
Trục dưới đồi tuyến yên điều hòa chức năng của tuyến
thượng thận, tuyến giáp, tinh hoàn, bài tiết chất andrenocorticotropin
(A.C.T.H.) ở thùy trước điều hòa tuyến thượng thận, chất thyroid stimulating
hormone (TSH) điều hòa tuyến giáp, chất follicle stimulating hormone (FSH) kích
thích tinh hoàn sinh tinh trùng, chất luteinizing hormone (LH) kích thích tinh
hoàn bài tiết testeron, chất prolactin (PRL) kích thích sản xuất sữa, chất human
growth hormone (h.GH) điều hòa sự phát triển cơ thể. Ở thùy sau có chất kích
thích tố vasopressin kháng bài niệu (ADH) và Oxytocin điều hòa bài tiết sữa và
tăng sự co bóp tử cung lúc sắp sinh.
Vùng dưới đồi bài tiết các chất kích
thích tố thần kinh để điều hòa chức năng của tuyến yên.
Tuyến
giáp:
Bài tiết thyroxin và tridothyronin tăng cường cơ chế sinh hóa và chuyển
hóa calci làm xương hấp thụ calci nhiều hơn và làm giảm tỷ lệ calci trong ngăn
ngoại bào.
Tuyến cận giáp qua kích thích tố parathormon kiểm tra nồng độ
calci trong ngăn ngoại bào, nếu thiếu sẽ hấp thụ calci từ ruột, nếu dư sẽ bài
tiết qua thận, và kiểm soát tốc độ phóng thích calci từ xương.
Tuyến tụy
:
Điều hòa chất insulin và glucagon kiểm soát lượng đường, chuyển hóa các
carbohydrate vào cơ thể và tăng cường sự phóng thích đường dự trữ trong
gan.
Khí công dùng huyệt Trung quản kích thích can tỳ (gan-lá mía) để điều
hành hấp thụ và chuyển hóa đường, về dịch lý Tỳ thuộc hành thổ điều hòa được cả
bốn hành kim, mộc, thủy, hỏa.
Tuyến ức :
Tạo kích thích tố hình thành
tế bào Lympho làm tăng hệ miễn dịch, khí công dùng huyệt Chiên trung để điều hòa
chức năng tuyến ức, huyệt Chiên trung theo khí công là huyệt điều hành vinh khí
và vệ khí.
Tuyến tùng :
Bài tiết melatonin có công dụng điều hòa kích
thích tố gonadotropin trong chức năng tình dục và sinh sản.
Quan niệm con
người là một tổng thể trong việc điều chỉnh bệnh tật :
Đông y chữa bệnh là
điều chỉnh lại chức năng khí hóa ngũ hành của một tổng thể, tìm nguyên nhân gây
bệnh bằng phương pháp tứ chẩn giống như tây y xét nghiệm thử máu, thử phân và
nước tiểu, hoặc chụp hình để định bệnh trước khi chữa, nhưng khi chữa thì đông y
chữa vào système, tây y chữa vào organe theo từng chuyên khoa riêng biệt. Đúng
ra y học hiện đại cũng nên có cái nhìn toàn diện về những thay đổi bất bình
thường trong bộ máy tinh vi phức tạp còn nhiều bí ẩn mà qua giải phẫu học, mô
học, tế bào học, sinh hóa học, sinh lý học, vi trùng học..hoặc đi sâu vào từng
bộ phận chuyên khoa nội tạng cũng chỉ do nhu cầu tìm hiểu sâu rộng, nhưng khi
chữa bệnh người thầy thuốc phải tổng hợp những cái hiểu biết riêng rẽ gom vào
một mối trong sự liên hệ chức năng của một tổng thể để chữa vào nguyên nhân gốc.
Nếu càng chuyên khoa hóa để chữa càng mất đi cái quân bình tổng thể, vì các hiện
tượng triệu chứng chỉ là cục bộ nhưng nó có mối qua lại liên hệ giữa cơ quan
tạng phủ này với tạng phủ khác, vì thế cách chữa của đông y là điều chỉnh lại
những chức năng mất quân bình dư hoặc thiếu, thí dụ có khi bệnh áp huyết thì ở
tim mạch nhưng nguyên nhân do thận tăng renin khi thận suy thì đông y bổ thận
như chúng ta đã biết qua sự phân tích chức năng tuyến thượng thận theo tây y.
Hoặc bọng đái viêm xơ hóa đi tiểu ít một nhưng đi 20-30 lần trong ngày, nguyên
nhân do lao thận hoặc do viêm gan mật nặng gây nhiễm độc cho thận, trong trường
hợp này đông y phải xét đến yếu tố hư thực để chữa theo ngũ hành tổng thể, nếu
can thực phải tả tâm hỏa, nếu do can hư phải bổ thận, tuy nhiên nếu cả đông y
lẫn tây y có thể cho là khó chữa, nếu không biết cách chữa đúng có thể chữa lợn
lành thành lợn què, thì môn khí công chữa bệnh có thể dung hòa để làm tăng sinh
hóa chuyển hóa mạnh chức năng tạng phủ tự điều chỉnh chữa khỏi được mọi bệnh
tật.
Sơ lược nguồn gốc hình thành môn khí công y đạo :
Với lòng
mong mỏi đi tìm một phương pháp vừa cường thân kiện thể nhẹ nhàng cho mọi lứa
tuổi vừa chữa được bệnh nội ngoại khoa bổ sung cho cách chữa bệnh bằng thuốc
uống qúa nhiều loại thuốc bệnh cùng một lúc sẽ gây hại cho cơ thể hơn là lợi, và
muốn duy trì đuợc sức khỏe và tuổi thọ trong một thân thể minh mẫn thì không
cách gì hơn là phải tìm hiểu môn học đông y châm cứu cùng tập luyện khí công xem
chúng có liên hệ với nhau như thế nào.
Năm 1977 tác giả bị đau cánh tay
trái không đưa ra sau hoặc mặc quần áo được, không rõ nguyên nhân, nhưng bệnh
càng ngày càng tệ, uống thuốc không bớt, vận khí tập như võ thuật hay đưa tay cử
động như môn thể thao càng cảm thấy đau, đi châm cứu cũng bớt rồi tái lại, mà
mỗi lầm châm cứu bằng kim tôi cảm thấy sợ. Mình xem phim hoặc đọc chuyện chưởng
thấy nhất dương chỉ và điểm huyệt qúa hay, như vậy huyệt là cái gì, nếu hay tại
sao các thầy châm cứu chữa không hết thì vô lý thật. Tôi bèn mua sách châm cứu
của cụ Thượng Trúc dò theo các đường kinh mạch, chỗ nào có huyệt cứ bấm thử xem
sao, tập bấm vào huyệt, cạnh huyệt, trên huyệt, dưới huyệt để phân biệt có gì
khác lạ, nghiệm xem khi bấm huyệt đau như thế nào, cái đau chạy lan tỏa đến đâu.
Thời gian tự học hỏi và mò mẫm vô tình bấm phải huyệt Tiểu hải có cảm giác dễ
chịu khác lạ, nơi đó không phải là điểm đau a thị huyệt nên không dễ tìm, bấm
vài lần tôi cảm thấy tay tôi cử động dễ dàng nhẹ nhõm hơn, nhưng chưa được kết
qủa như ý. Tôi đánh dấu vị trí huyệt đó rồi nhờ một người bạn bấm mạnh, nó có
cảm giác đau tức lan tỏa cánh tay và vai một lúc rồi sau hết đau, cuối cùng bệnh
đau tay của tôi khỏi hẳn. Tôi kết luận là huyệt chữa bệnh rất hay nhưng khả năng
bấm huyệt còn tùy vào lực bấm và cách chọn huyệt để chữa phải đúng bệnh, lệ
thuộc vào sự lý luận cao siêu của thầy thuốc trong việc tìm nguyên nhân gây
bệnh, phải biết bởi hành nào trong ngũ hành, bởi kinh nào trong 12 kinh, và phải
dùng huyệt nào trong số 360 huyệt, vì trong đó có nhiều huyệt chữa những triệu
chứng bệnh giống nhau nhưng nguyên nhân khác nhau. Khi suy ngẫm lại tại sao mình
bị bệnh, tại sao uống thuốc (thuộc tinh ) cũng không hết, tại sao châm cứu và
vận khí để đả thông kinh mạch (thuộc khí ) không hết, sau đó tôi mới biết nguyên
nhân do tinh thần (thuộc thần ), vì trước khi chưa bệnh tôi bị khủng hoảng tinh
thần do công việc làm, khiến khí huyết suy kém gây nên bệnh. Bệnh theo ngũ hành
là tâm hỏa suy khiến tỳ thổ suy, tay chân yếu khiến khí huyết tắc thuộc khí
không thông nên vận khí bị đau, mặc dù vẫn ăn ngon, nhưng ngủ không khỏe. Thầy
thuốc khi châm cứu không biết châm vào huyệt Tiểu hải, mà châm theo công thức
bài bản sẵn có, không cần lý luận tìm nguyên nhân, không chọn đúng huyệt cần
châm, hoặc cũng như thuốc uống thuộc tinh cũng không giải được chỗ khí bị bế tắc
mặc dù cho thuốc đúng bệnh. Tôi chợt có nhận xét các ông thầy thuốc, các võ sĩ,
các vận động viên, các nhà châm cứu, cũng có lúc bệnh mà tự chữa cho mình không
được.
Bởi vì nơi đau bị tắc khí huyết, nếu là thầy thuốc bị bệnh tự chữa
bằng thuốc uống mà không khỏi, như vậy phải cần phối hợp thêm cách chữa tập cho
thông khí bằng vận động hoặc giải tắc bằng huyệt.
Nếu thầy châm cứu bị
bệnh tự chữa bằng châm kim để thông huyệt nhưng không đủ khí lưu thông chỗ đau
vì cơ thể thiếu huyết không tiết ra nội dược sẽ không hết, nên cần phải cầu thêm
thuốc bên ngoài.
Nếu các vận động viên bị bệnh khi vận khí càng đau thêm
thì phải cần biết giải huyệt những nơi bị tắc.
Tóm lại một bệnh muốn chữa
khỏi phải chữa đủ cả ba yếu tố tinh-khí-thần hòa hợp gồm bổ tinh chất bằng ăn
uống thuốc men đúng, vận khí thông kinh mạch, và dưỡng thần không bị nội ngoại
cảnh chi phối cảm xúc giận buồn lo lắng ..như vậy chỉ có tập khí công mới hội đủ
3 yếu tố để tự chữa bệnh. Tôi đã có sẵn kiến thức về đông y dược trong thời gian
hành nghề thu mua và chế biến thuốc thành phẩm đông y , trước đó tôi cũng tập
luyện võ thuật và đang nghiên cứu cách chữa bệnh bằng huyệt, trong ba điều kiện
tinh-khí-thần hòa hợp tôi đã có hai, chỉ cần làm sao làm chủ được tâm lý thần
kinh, luyện thần giữ cho tinh thần nhu hòa, tâm bình để có thể kiểm soát điều
hòa được chức năng khí hóa trao đổi chất trong cơ thể được quân bình không bị
nội tâm hay ngoại cảnh chi phối bởi tham sân si thất tình lục dục làm xáo trộn
khí huyết mà gây nên bệnh, chính những thay đổi tâm lý thần kinh đó, tưởng không
có gì hại, nhưng thật ra nó cũng đã là một xung kích âm thầm phá hoại cơ thể như
một độc dược, thí dụ như sự sợ hãi đã làm tim đập nhanh, mặt tái mét, nổi da gà,
rối loạn nhu động ruột, đôi khi vãi đái ,rối loạn nội tiết, ức chế bao tử bài
tiết dịch nên chán ăn rối loạn chức năng khí hóa.
Tình cờ một duyên may
đến, tôi được trao đổi kinh nghiệm chữa bệnh với Cha Bùi đức Tiệp, cựu hiệu
trưởng Trường Trung học Nguyễn bá Tòng, thời gian lúc đó cha cũng đang nghiên
cứu châm cứu và khí công. Cha đưa cho tôi Cẩm nang tập thở khí công luyện tinh
hóa khí, luyện khí hóa thần. Khi tôi tập một thờI gian, đến chỗ không hiểu nhờ
cha giảng giải, cha cho biết cha không phải là tác giả của cẩm nang, mà nó xuất
phát từ Bác Tám ở Tam tông Miếu, và cha đã giới thiệu cho tôi đến gặp. Bác Tám
cũng cho biết có tập được một thời gian rồi ngưng vì cũng không hiểu chỗ cao
siêu vi diệu xuất xứ từ lời dạy qua giáng bút cơ mật của Cao Đài giáo. Bác thấy
tôi có căn cơ học nhanh, bác cho tôi tham khảo thêm những tài liệu bí truyền bổn
giáo để tự học lấy lên cao hơn, theo một pháp môn gọi là Đại thừa cửu chuyển,
căn bản hít thở là khai thông tiểu chu thiên, đại chu thiên, pháp luyện chuyển
tinh thành khí, pháp luyện chuyển khí thành thần, pháp luyện chuyển thần hoàn
hư, tập từng bước từ sơ nhất chuyển đến cửu chuyển, mỗi một lần chuyển là một sự
thay đổi tiến bộ theo sự chỉ dạy của tổ sư bổn giáo, khi chưa đạt được những ấn
chứng mới thì cứ tập ở mức cũ bao giờ có sự chuyển đổi bậc, sẽ chứng ngộ được
những kinh nghiệm theo cơ bút đã giảng, hiện nay tôi vẫn tập chưa xong hết cửu
chuyển, nhưng đã có kinh nghiệm phổ biến những lợi lạc cho người khác học được
từ sơ nhất chuyển đến tứ chuyển được tạm chia thành 6 cấp, cấp 6 khai mở hỏa xà
phải diệt dục dành cho những người lớn tuổi không còn ham mê sắc dục, loại khí
công này dùng để tu tánh luyện mạng, từ sơ nhất chuyển đến tứ chuyển giúp cho
thân thể khỏe mạnh, thân tâm an lạc. Từ ngũ chuyển đến cửu chuyển thuộc về siêu
hình học dùng để phát triển tâm linh. Trong qúa trình tập luyện cửu chuyển đều
theo đồ hình Tu Chân Nội Lý Đồ, vừa tổng hợp thông kỳ kinh bát mạch, đi theo
vòng Nhâm-Đốc thông tiểu chu thiên và đại chu thiên vừa luyện thần hoàn hư để
phát triển nội lực của tinh-khí-thần để có được tinh lực, khí lực, thần lực
.
Sau một thời gian tập luyện chứng nghiệm được chỗ vi diệu, Bác Tám mời
tôi truyền lại cho các vị đạo trưởng từ các tỉnh về tu học, từ lúc đó môn Khí
Công Y Đạo chính thức ra đời và được giảng dạy lớp đầu tiên cho các thầy thuốc
châm cứu nơi Tam tông miếu trước khi tôi rời khỏi Việt Nam để sang
Canada.
Vậy Khí công Y Đạo là gì ?
Khí Công Y Đạo
là một phương pháp chữa bệnh bằng cách tập luyện khí công đơn giản, chú trọng
đến sự quân bình khí hóa của lục phủ ngũ tạng. Tập luyện khí công là công phu
theo dõi kiểm soát hơi thở theo những quy luật riêng tùy theo lúc tập động công
hay tĩnh công.
Phương pháp Động công:
Mục đích
của động công là tập luyện cơ thể bền bỉ dẻo dai, khai thông được khí huyết ở
những vùng bị bế tắc đã gây nên bệnh, khai mở các huyệt của kỳ kinh bát mạch và
các luân xa theo một nhịp độ sinh học đồng bộ giữa động tác và hơi thở thuận với
nhịp sinh học trao đổi chất của âm dương khí huyết để tự nó có thể khai mở được
vòng tiểu chu thiên và đại chu thiên trong cơ thể ngỏ hầu tăng cường khả năng tự
chữa bệnh và phòng chống bệnh không những cho chính bản thân mình mà còn có khí
lực và thần lực để chữa bệnh cho người khác mà không sợ mệt và mất khí như những
thầy chữa bệnh khác.
Những bài tập động công cũng có thể áp dụng hướng dẫn
cho người bệnh tập luyện nhằm tăng cường dương khí, những động tác tay chân đều
theo quy luật trong âm có dương, trong dương có âm và các động tác phải phù hợp
với hơi thở tùy theo mỗi trường hợp bệnh cần chữa trị.
Ba mươi sáu thế
khí công căn bản để trị bệnh thuộc phần Động công, chú trọng vào sự điều chỉnh
khí hóa của hệ thống Tam Tiêu, điều chỉnh thần kinh ( thần ), thông khí huyết
cho lục phủ ngũ tạng, chuyển khí chạy theo vòng Nhâm-Đốc theo thứ tự đi hết một
vòng tiểu chu thiên và tăng cường khí hoạt động cho tam tiêu là Tông khí , Ngũ
hành khí, Nguyên khí.
Khí của vùng thượng tiêu :
Do Đan điền Khí vận
hành bởi hơi thở của phế khí được tăng cường do hít thở sâu cho dưỡng khí vào
đầy phổi được tích lũy dư thưà hơn người bình thường, chỉ những người tập thể
dục thể thao hoặc tập khí công mới có được, gọi là TÔNG KHÍ, nhờ nó tích lũy
được nhiều oxygiène trong phổi mới làm tăng được hồng cầu và tăng áp lực kích
thích sự tuần hoàn của tim mạch được mạnh hơn bình thường.
Khí của vùng
trung tiêu :
Do Đan điền Thần vận hành bởi khí của lục phủ ngũ tạng được tăng
cường sự sinh hóa chủ động có kiểm soát để có thể tăng cường chức năng hoạt động
của lục phủ ngũ tạng giúp cho sự hấp thụ và chuyển hóa khí huyết lưu thông khắp
các kinh mạch, gọi là NGŨ T_NG KHÍ .
Khí của vùng hạ tiêu :
Do Đan
điền Tinh vận hành bởi nguyên khí tiên thiên bẩm sinh tích lũy tại thận, được
bảo vệ, duy trì và tiếp nạp tồn trữ thêm khí hậu thiên do ăn uống. Khi tập khí
công đưa hơi thở vào Đan điền tinh để tăng cường chức năng hoạt động của thận
làm cho nguyên khí tiên thiên hoạt động mạnh hơn, giúp cho sự sinh hóa chuyển
hóa tinh chất của thức ăn hóa khí, chuyển khí hóa thần giúp thận có khả năng
hoạt động khỏe và lâu bền, kéo dài tuổi thọ hơn, gọi là nguyên khí hậu thiên do
tập luyện khí công mà có được, gọi chung cả hai loại khí của thận là NGUYÊN
KHÍ.
Khi ba loại Tông khí, Ngũ tạng khí và Nguyên khí cùng hòa hợp đúng
và đủ mới có thể chọn lọc được cốc khí ( chất bổ của thức ăn ) để sinh hóa và
chuyển hóa trọn vẹn cốc khí thành hai loại khí quan trọng và cần thiết cho cơ
thể là khí dinh dưỡng gọi là VINH KHÍ ( là cốc khí chuyển hóa thành máu nuôi
dưỡng cơ thể phát triển) và khí bảo vệ gọi là V_ KHÍ (là cốc khí chuyển hóa
thành khí lực giúp máu tuần hoàn, và điều chỉnh số lượng hồng cầu, bạch cầu,
huyết thanh, huyết bản, các loại hormones các loại kháng thể cần thiết để bảo vệ
cơ thể tăng cường sức đề kháng khi có bệnh ).
Khí Vinh và Vệ mạnh hay
yếu, lệ thuộc vào tông khí từ đan điền khí, tuần hoàn luân phiên qua huyệt Chiên
Trung (giao điểm đường giữa ngực và đường ngang qua hai núm vú ), khi ấn ngón
tay vào huyệt không có cảm giác đau là người khỏe mạnh, ngược lại nếu có cảm
giác đau là cơ thể đã thiếu hụt hai loại khí vinh-vệ do mất quân bình của ba
loại khí ở tam tiêu.
Phương pháp Tĩnh công :
Theo quy luật âm
dương hòa hợp, tập động công là tập tăng cường dương khí và tập tĩnh công là
phần âm chuyển hóa khí làm mạnh chức năng thần kinh, nhưng trong cách luyện và
theo dõi hơi thở cũng thể hiện quy luật trong âm có dương, mục đích điều khiển
hơi thở nhằm khai thông các đại huyệt ( luân xa = charkra ) trên Nhâm-Đốc mạch,
giúp cho tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng Tiểu chu thiên
để tạo ra một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ thể. Tĩnh công phải hội
đủ ba điều kiện là điều thân, điều ý, điều tức.
Điều thân :
Có nhiều
cách tập thở ở tư thế đứng, nằm, ngồi, ở đây chúng tôi hướng dẫn cách ngồi để
nạp khí và cách nằm để dưỡng thần.
Điều ý :
Với khẩu quyết của khí
công Ý ở đâu khí ở đó, khí đến đâu huyết đến đó cho nên tùy theo mục đích chữa
bệnh hợp với nhu cầu cơ thể cần, như muốn tăng cường sự khí hóa, cần tăng huyết,
cần an thần.. ý sẽ được tập trung vào các vị trí khác nhau ở đan điền khí, ở đan
điền thần, ở đan điền tinh hoặc ở huyệt Mệnh môn..
Điều tức :
Là tập
điều hòa hơi thở được tự nhiên : nhẹ, chậm, sâu, lâu, đều, tự nhiên cho thành
một thói quen, nhằm khai thông các huyệt đạo trên Nhâm-Đốc mạch giúp cho
tinh-khí-thần hòa hợp, cùng vận hành liên tục theo vòng tiểu chu thiên để tạo ra
một hệ thống phòng chống bệnh tự động trong cơ thể.
Điều hòa hơi thở đúng sẽ
làm thay đổi chức năng co bóp của tim và nhịp tim được cải thiện ngay sau khi
tập, đã được kiểm chứng đo điện tâm đồ ngay tại lớp học cho một bệnh nhân trước
khi tập, trong khi tập và sau khi tập.
Tập
thở chú ý đến điều chỉnh hơi thở nhẹ, chậm, sâu, lâu, đều, tự nhiên, không gò bó
không ép hơi, tạo thành nhịp thở sinh học đều đặn theo chu kỳ khoảng 6 đến 12
hơi thở ra thở vào trong một phút, sẽ giúp cho hệ thống miễn nhiễm được mạnh gấp
nhiều lần hơn những người khác. Bình thường một người khỏe mạnh không bệnh tật,
thở trung bình một phút được 18 hơi, nếu đến tuổi già vẫn giữ được 18 hơi thì
tuổi thọ có thể sống lâu 100 tuổi. Nếu hơi thở trên 18 hơi là cơ thể đã có bệnh
(thí dụ như bị thở gấp, ngắn hơi, hụt hơi trong bệnh tim mạch, suyễn, đau đớn..)
thì tuổi thọ sẽ giảm. Con rùa thở 2 hơi trong một phút, tuổi thọ trung bình của
rùa sống được 300 năm. Như vậy chúng ta muốn cơ thể khỏe mạnh sống lâu phải tập
luyện cho thành thói quen tự nhiên với nhịp thở sinh học đều đặn dưới 18 hơi một
phút, càng thở ít hơi, tuổi thọ càng cao. Ngày xưa có một ông lão 80 tuổi trông
rất hồng hào khỏe mạnh và trẻ như tuổi 50, có nhiều người hỏi ông cách tập luyện
làm sao để được trẻ khỏe như ông, ông trả lời : đói ăn, khát uống, mệt ngủ khì .
Họ nói, điều ông dạy đứa trẻ 8 tuổi cũng đã biết, có gì đặc biệt đâu nào . Ông
trả lời : Phải, đứa trẻ 8 tuổi cũng đã biết, nhưng 80 tuổi vẫn làm chưa xong. Ý
nói tuổi già vẫn còn phải tập luyện tiếp tục duy trì sự ăn uống ngủ nghỉ được
điều độ, bình thường tự nhiên theo nhu cầu, đó là duy trì tinh-khí-thần hòa hợp
.Khí công chú trọng đến điều tức để duy trì sự hòa hợp của tinh-khí-thần thì cơ
thể mới khỏe mạnh, tuổi thọ mới lâu bền được.
VớI mục đích tự chữa bệnh,
40 bài tập động công được chọn lựa cô đọng, tập với nhịp thở từ 6 đến 12 hơi
trong một phút, theo trình tự từ bài đầu đến bài cuối sẽ có lợi ích nhiều cho
việc điều chỉnh tinh-khí-thần, khai thông khí huyết toàn thân, tăng cường được
cả 5 loại khí giúp cơ thể đủ khả năng tự động phòng chống bệnh tật có hiệu qủa
trong các bệnh đau nhức đầu, phong thấp đau nhức tay chân, đau lưng gối, thần
kinh tọa, các bệnh thuộc nội tạng tuần hoàn tim mạch như bệnh áp huyết, rối loạn
nhịp tim, thiếu máu não, bệnh thuộc hô hấp như suyễn, lao phổi, khó thở, bệnh
thuộc hấp thụ, tiêu hóa như tiểu đường, cholesterol, gan, mật, bao tử, bệnh
đường ruột như táo bón, tiêu chảy, bệnh rối loạn nội tiết..
Ngoài ra có 3
bài tập thở tĩnh công để dưỡng tâm an thần, tăng cường hệ thống thần kinh, hệ
miễn nhiễm và nội tiết giúp bệnh mau hồi phục.
Đã có nhiều người tập đều
đặn một thời gian, sức khỏe được cải thiện, họ lấy làm lạ, những bệnh tật kinh
niên tự biến mất dần, ít phải dùng thuốc hơn, nhất là các bệnh đau nhức chân
tay, lưng gối, cảm cúm, nhức đầu, chóng mặt, dị ứng cây cỏ và thời tiết, ho hen,
suyễn, áp huyết, tiểu đường.. biến mất, lại ăn ngon, ngủ khỏe. Họ lấy làm lạ, vì
các thế tập trong bài không có gì đặc biệt, cầu kỳ và khó nhớ, khó tập như các
môn khí công khác, nhưng kết qủa thật kỳ diệu, như một phép lạ. Họ yêu cầu tôi
giải thích.
Như trên, tôi đã giải thích, các động tác được cài đặt có trình
tự để thông khí huyết, khai thông kỳ kinh bát mạch để cơ thể tự tuần hoàn theo
vòng Tiểu chu thiên và Đại chu thiên. Tôi kể một câu chuyện làm thí dụ để chúng
ta hiểu rõ hơn tại sao nó đơn giản mộc mạc mà lại vô cùng cao siêu thâm thúy
không ngờ được :
Ở miền Nam nước ta, Cụ Đồ Chiểu nổi tiếng là một nhà
thơ, có một chàng tên Văn Bình tự coi mình là nhà thơ hay, tìm đến cụ để thử tài
cao thấp. Tìm đến nơi, gặp được ông lão ngồi đan giỏ, cho biết Cụ Đồ đi vắng một
lát, xin mời cậu ngồi chờ, ông hỏi mục đích tìm gặp Cụ Đồ, Văn Bình ngỏ ý muốn
bàn luận thơ văn với Cụ. Ông lão bảo, tôi cũng biết võ vẽ vài chữ chứ không biết
làm thơ gì, xin được đối với cậu từng chữ một cho vui trong lúc chờ đợi Cụ Đồ
về, cậu có bằng lòng không ? Dĩ nhiên Văn Bình chịu ngay.
Ông lão ra vế
đối : chữ thứ nhất là Võ, cậu đối lại là Văn, chữ thứ hai là Trắc, cậu đối lại
là Bình, chữ thứ ba là Đáo, cậu đối lại là Lai, chữ thứ tư là Nam, cậu đối lại
là Bắc, chữ thứ năm là Cô, cậu đối lại là Cụ.
Ông lão ngưng không ra vế
đối nữa, mà nói, thôi bây giờ chúng ta thử ráp lại xem câu của chúng mình có
nghĩa gì không nào ? Và ông đọc câu của ông là :
Võ Trắc Đáo Nam Cô,
Câu
của Văn Bình là Văn Bình Lai Bắc Cụ.
Chữ bắc cụ được đọc lái ngược lại thành
một nghĩa khác.
Văn Bình đọc xong, thẹn đỏ mặt, biết ông lão chính là Cụ Đồ
đã chơi khăm mình. Những chữ thật tầm thường như thế trở nên có ý nghĩa thâm
thúy vô cùng. Vì thế những bài tập khí công với những động tác tầm thường, nhưng
mục đích được cài đặt để thông Đại chu thiên, là một môn khí công vừa rút ngắn
thời gian vừa có kết qủa hơn các môn khí công khác phải mất nhiều năm tập luyện
mà cũng chưa đạt được sự cải thiện sức khỏe để tự chữa khỏi những bệnh nan
y.
Chúng tôi mong rằng những giải thích về lợi ích của môn tập khí công
tự chữa bệnh và cuộn băng video hướng dẫn những động tác tập thể dục khí công sẽ
giúp ích được phần nào cho những ai quan tâm đến việc tập luyện để tăng cường
sức khỏe cho chính bản thân mình và có thể chỉ dẫn cho những người bệnh khác tập
một vài động tác để cải thiện được sức khỏe cho họ, điều đó đủ đem lại cho chúng
tôi một niềm vui vô tận.


14:14
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét