Khám
bệnh bằng Mạch lý đông y –Thí dụ một Mạch Huyền.
Một
cách khám bệnh hoàn chỉnh theo tây y là chúng ta phải có một bảng kết qủa thử
nghiệm các thành phần máu, phân, nước tiểu, chụp hình tim, phổi, điện tâm đồ,
điện não đồ, scan óc, gan, bao tử, lá mía, thận, bàng quang, ruột, các chất điện
giải…
đầy
đủ tất cả mọi cơ quan trong cơ thể để có những thông số, những biểu đồ bệnh lý
của nhiều khoa chuyên ngành từ nhiều phòng thí nghiệm khác nhau, tập trung về
cho bác sĩ tìm bệnh và định bệnh . Nhưng trên thực tế không làm được, vừa mất
thời giờ, vừa lãng phí tiền bạc, vừa phải mất nhiều bác sĩ chuyên môn chẩn đoán
bệnh chứ không thể một bác sĩ mà biết hết được những kết qủa thử nghiệm ấy .
Nhưng
may mắn thay, kinh nghiện đông y đã để lại một phương pháp khám bệnh bằng Mạch ,
một môn khoa học cổ đông phương đã trở thành nguyên lý bất biến đúng với mọi
thời đaị, với mọi loại bệnh tật từ dễ đến nan y, mà ngày nay dù khoa học có tiến
bộ bao nhiêu cũng không thể khoa học hóa bằng máy móc để sáng chế ra máy đo mạch
đúng theo tiêu chuẩn Mạch bệnh của đông y được.
Trời
sinh ra con người cũng rất tinh vi, mọi bệnh tật ở bất cứ thời đại nào cũng
không ngoài sự xáo trộn mất quân bình âm dương, khí, huyết để làm ra bệnh thực,
bệnh hư của lục phủ ngũ tạng để sinh ra hàn, nhiệt, sinh ra bệnh nhẹ là biểu
chứng, bệnh nặng là lý chứng …Và tất cả các bệnh chứng đó đều đã được cơ thể
khám cho ra những kết qủa tương đương bằng những loại Mạch khác nhau trên 2 cổ
tay, và những kết qủa đó chỉ cần có một thầy thuốc đông y giỏi, giầu kinh nghiệm
có thể đọc ra được còn đầy đủ hơn những xét nghiệm của tây y đã phải cần nhiều
bác sĩ chuyên khoa mới đọc được những kết qủa xét nghiệm ấy .
Trong
Kinh Pháp Hoa có đoạn Đức Phật nói : Các ngươi đã là Thầy thuốc
chữa bệnh, không thể nào các ngươi treo bảng chỉ chữa được những bệnh này mà
không chữa được những bệnh khác . Chứng tỏ các Thầy thuốc cổ
truyền cách nay gần 2600 năm cũng đã biết nguyên lý chữa bệnh, con người là một
tổng thể, khi khám được bệnh, định được bệnh, thì khi chữa bệnh là tái lập lại
quân bình cho cơ thể chứ không phải chữa riêng cho một loại bệnh nào.
Vì
thế trước khi học chữa bệnh các Thầy thuốc đông y phải học cách khám tìm mạch
bệnh và biện chứng lý giải để định bệnh gọi là Mạch lý ,cần phải suy luận theo
quy luật ngũ hành để tìm chứng .Nói được đúng chứng
bệnh lúc đó mới chữa bệnh bằng phương pháo đối
chứng trị liệu để tái lập lại quân bình . Và công việc này phải
được kiểm chứng lại sự thay đổi mạch mỗi ngày mỗi khác xem mạch bệnh đã khá hơn
hay tệ hơn để điều chỉnh lại .
Đối
với Tây y không thể nào xét nghiệm mỗi ngày được, vì bệnh nhân vừa mất sức, mất
máu, tốn kém nhiều tiền bạc và thời giờ . Mỗi tuần mỗi xét nghiệm lại một lần
cũng đã mất nhiều công sức ,nhưng trong một tuần điều trị , nếu điều trị đúng
thì may mắn cho bệnh nhân, bằng ngược lại điều trị sai trong suốt một tuần thì
bệnh càng suy nhược, nếu đổi phương pháp trị liệu khác lại sai lầm nữa thì kết
qủa xét nghiệm lại xấu hơn khiến bệnh nhân không đủ sức để theo đuổi trị liệu sẽ
bị chết oan uổng .
Chỉ
riêng phần bắt mạch, nếu trong các bệnh viện tây y có thêm thầy thuốc đông y
chuyên bắt mạch để theo dõi những trường hợp điều trị những bệnh nan y bằng
,hóa, quang trị liệu để phối hợp hướng dẫn tăng giảm liều
thuốc hay báo cho bác sĩ biết phương cách điều trị đó không hợp, không đúng với
bệnh nhân vì sau mỗi liều thuốc mạch bệnh càng tồi tệ thì lúc đó khoa chữa bệnh
sẽ tránh được nhiều sai lầm và cách chữa có nhiều kết qủa , bệnh nhân sẽ có
nhiều may mắn sống sót và khỏi bệnh hơn…
Trong
khoảng 3000 năm trước, các Thầy thuốc đông y cũng mổ xẻ, cũng thử nghiệm thuốc,
thử nghiệm huyệt trên những thân sống của tử tội được nhà vua cho phép , từ đời
này sang đời khác, Thầy đời sau thử nghiệm lại các kinh nghiệm của những thầy
thời trước cũng trên thân sống của tử tội , lạm dụng tử tội để thử mãi từ đời
này sang đời khác để bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức đông y đều thấy kết qủa
giống nhau mới tạo nên được một hệ thống đông y hoàn chỉnh, và để chấm dứt những
sự lạm dụng tử tội không cần thiết, các thầy thuốc đi đến kết luận
: Cái gì chưa biết mới phải thử nghiệm, còn cái gì đã biết
rồi không cần phải thử nghiệm nữa .
Bây
giờ Tây y mới thịnh hành được 1000 năm, đang trên con đường thử nghiệm và hướng
thử nghiệm suy luận từ tây sang đông, cuối cùng đông tây cũng hợp nhất sau mấy
trăm năm có lẽ phương tây có bệnh viện đông y, phương đông có bệnh viện tây y,
đó là lý lẽ biến đổi âm dương, không vượt ra khỏi quy luật âm dương của trời đất
.
A-MẠCH BỆNH LÀ GÌ MÀ
LỢI HẠI NHƯ VẬY ?
Đông
y phân biệt rõ ràng các dấu hiệu triệu chứng bệnh bằng 28 mạch bệnh và 7 loại
mạch báo hiệu bệnh nhân sẽ chết không chữa được gọi là tử mạch .
Tên
gọi của 28 mạch bệnh :
Phù,
Trầm, Trì, Sác, Hư, Thực, Hồng, Vi, Huyền, Khẩn, Hoãn, Sắc, Khẩn, Hoạt, Phục,
Nhu, Nhưọc, Trường, Đoản, Tế, Đại, Đời, Xúc, Kết, Động, Cách, Tán,
Tuyệt (mất mạch nhưng Thầy giỏi còn có thể chữa được).
Tên
gọi của 7 Tử mạch :
Chim
mổ, Nhà dột, Gỏ đá, Cởi giây, Cá lượn, Tôm bơi, Canh sôi ,
Khi
chúng ta bắt mạch nghe được những mạch này là đành bó tay không chữa được .
Một
người học mà biết phân biệt mạch giỏi ít nhất cũng mất thời gian trải qua kinh
nghiệm lâm sàng 20 năm, nếu không cũng giống như ông lang vườn mà tôi đã kể câu
chuyện trong y sử một bệnh nhân ho ra máu ,3 thầy hội chẩn khám mạch định bệnh
là nhiệt chứng cho thuốc hàn , đó là do bắt mạch đúng mà lý luận ngũ hành sai
mới dùng lầm thuốc , nếu lý luận ngũ hành đúng thì bệnh thuộc hàn chứng phải cho
thuốc nhiệt là dùng quế tâm bệnh nhân hết ho ra máu và bệnh nhân lại khen rằng
thuốc mát qúa ,tại sao lại nghịch lý như vậy ? Đó là chứng bệnh nan y hàn giả
nhiệt ,cho nên đối chứng dùng nhiệt giả hàn thuốc nhiệt của quế liễm vào trong,
cái lạnh của bệnh bên trong bị đẩy ra ngoài da .
Ở
đây chúng ta không xét các mạch, nhân tiện có người hỏi về mạch Huyền và cách
chữa ,nên tôi chỉ đưa ra thảo luận một mạch Huyền làm mẫu mực để chúng ta biết
những kiến thức tích lũy kinh nghiệnm của các Thầy thuốc đông y cổ truyền có
tính khoa học cao siêu như thế nào mà ngày nay chúng ta vẫn chưa thể nào theo
kịp, mà chỉ đang trên đường kiểm chứng được cái hay và đúng của nó được từng
phần nhỏ nhoi trong rừng kiến thức đông y mà thôi .
B-MẠCH
HUYỀN
Có
những đặc điểm nhấc tay lên hay ấn đè tay xuống như đụng vào sợi dây cung căng
thẳng.
Bệnh
của mạch huyền phản ảnh tình trạng mất sức mệt nhọc quá độ thuộc loại bệnh khá
nặng tổn hại đến khí huyết.
Nhưng
muốn chữa những bệnh có mạch Huyền thì phải biết rõ mạch đó thuộc kinh mạch nào.
ở bộ vị nào , trên mỗi cổ tay có 3 bộ mạch Thốn, Quan, Xích .Cổ tay bên trái chủ
huyết thuộc bộ mạch Nhân nghinh , cổ tay bên phải chủ khí thuộc bộ mạch Khí khẩu
.
1-Bên
cổ tay trái Nhân nghinh :
Mạch
Thốn bộ sát cổ tay (nằm trên huyệt Thái uyên) gọi là tả Thốn thuộc hỏa , bắt
mạch nhẹ để xem bệnh hỏa dương là kinh Tiểu trường, đè mạnh để xem bệnh của hỏa
âm là kinh Tâm .
Mạch
Quan bộ ở giữa (nằm trên huyệt Kinh cừ) gọi là tả Quan thuộc mộc , bắt mạch nhẹ
để xem bệnh mộc dương thuộc kinh Đởm, đè mạnh để xem bệnh của mộc âm là kinh Can
.
Mạch
Xích bộ ở cuối (nằm gần huyệt Liệt khuyết) gọi là tả Xích thuộc thủy, bắt mạnh
nhẹ để xem bệnh thuộc thủy dương thuộc kinh Bàng quang, đè mạnh để xem bệnh của
thủy âm là kinh thận .
2-Bên
cổ tay phải Khí khẩu :
Mạch
hữu Thốn thuộc kim, bắt mạch nhẹ để xem bệnh kim dương là kinh Đại trường, đè
mạnh để xem bệnh của kim âm là kinh Phế .
Mạch
hữu Quan thuộc thổ, bắt mạch nhẹ để xem bệnh thổ dương là kinh Vị , đè mạnh để
xem bệnh thổ âm là kinh Tỳ.
Mạch
hữu Xích thuộc hỏa , bắt mạch nhẹ để xem bệnh của tướng hỏa là kinh Tam tiêu, đè
mạnh để xem bệnh của Thân dương Mệnh môn..
3-Tính
chất mạch biểu hiệu bệnh của từng tạng :
Ở
đây chúng ta thảo luận chỉ một mạch Huyền thôi , thì Mạch Huyền chính là mạch
của Can , nếu cả hai bên Nhân Nghinh , Khí khẩu có mạch huyền thì dưới cạnh sườn
đau lắm như bệnh sưng viêm gan…Nếu mạch huyền ở bộ khác mà không ở bộ gan (tả
Thốn) là do huyết hư có chứng ra mồ hôi trộm, đau nhức chân tay, buồn phiền, mệt
mỏi, da khô, nguyên khí hư hao. Bên trong người hư hàn nếu uống nhiều nước làm
đình trệ gây đau tức sườn, thân thể co quắp khiến người như sốt rét lúc nóng lúc
lạnh, hay hốt hoảng sợ sệt .
Nếu
mạch Huyền nặng hơn có kèm thêm mạch Khẩn tức là căng nhưng xoắn như dây thừng
là đã bị khí lạnh tích tụ ở kinh lạc sinh ung bướu trong người . Người Tây
phương hay uống dư thừa nước dễ có bệnh này .(Trở lại vấn đề trong bài viết Uống
nước nhiều lợi hay hại , để đông tây y kết hợp dung hòa , uống nước nhiều để lọc
máu tẩy độc là đúng, nhưng uống vào 2 lít, các độc tố trong người theo nước bị
đào thải ra ngoài cũng phải 2 lít, uống nước nhiều mà không lên cân là cơ thể
khỏe mạnh, còn uống vào mà lên cân là nước và độc tố bị giữ lại sẽ trở thành
bệnh gan chứa nước ,và trong màng mỡ tam tiêu ở bụng bị kết khối u không khu trú
vào tạng phủ nào, tây y cho là loại ung thư khó trị nhất, vì không có nơi để
đánh, mà đánh cũng không tan, như trường hợp trong bài viết.: Một trường hợp ung
thư, do chữa sai lầm làm nát gan, hỏng thận, cuối cùng các bác sĩ hội chẩn và
rút ống, lúc tôi đến bắt mạch cho bệnh nhân còn nhẩy nhưng là mạch tử.)
Nếu
Huyền kèm thêm mạch Trường là đường dây mạch căng kéo dài lấn qua vị trí của
Thốn và Xích là bệnh tích tụ kết khối của các loại ung thư.
Nếu
mạch Huyền kèm thêm mạch Hồng như dây căng như sóng cuồn cuộn là bệnh cấp tính
đau như kim đâm nhói đau cạnh sườn khó thở .
4-Phân
biệt Bệnh nặng nhẹ :
Để
biết bệnh nặng nhẹ còn phải nghe được chiều đi của mạch là thuận hay nghịch
:
Mạch
Dương sinh ở Xích bộ , động ở Thốn bộ theo chiều chạy từ trong ra phía ngón tay
.
Mạch
Âm sinh ở Thốn bộ , động ở Xích bộ theo chiều hướng về cùi chỏ.
Quan
bộ là nơi giao nhau của âm dương , khi bắt ở Quan bộ không thấy mạch là Âm dương
ly cách là bệnh nan y khó chữa, bệnh thuộc trung tiêu không hoạt động ..
Khi
bắt cả 3 bộ Thốn Quan Xích nghe dòng mạch chạy vào là bệnh nặng từ biểu đã đi
sâu vào lý, nếu dòng mạch chạy ra ngoài tay là bệnh ở biểu hoặc bệnh trước nặng
chạy vào lý, gần khỏi thì mạch chạy ra từ lý ra biểu .
Mạch
Nhân nghinh Khí khẩu còn tùy thuộc vào nam nữ như :
Nhân
nghinh mạnh, Khí khẩu hòa hoãn là mạch thuận của Nam, nữ thì ngược lại . Đó là
mạch tốt không bệnh.
C-CÁC BỆNH LIÊN QUAN
ĐẾN MẠCH HUYỀN :
Bệnh
biểu hiện không đơn giản là đơn mạch thuộc một trong 28 mạch mà còn xen kẽ các
mạch khác để báo hiệu tình trạng diễn tiến của bệnh mỗi lúc mỗ khác .
1-Mạch
Huyền đều có ở 3 bộ vị Thốn, Quan, Xích : là kết qủa xét nghiệm đọc được Gan
nóng làm đau đỏ mắt kéo mây mờ mắt, chảy nước mắt, nặng thì phát mụn nhọt, ung
thư.
2-Mạch
Huyền Trường ở 3 bộ : là kết qủa xét nghiệm đọc được ở gan có bệnh
3-Mạch
Huyền ở Tâm bộ:
a-Phù
Huyền ở Tâm : là kết qủa xét nghiệm có giun sán làm đau bụng .
b-Huyền
Sắc ở Tâm : là kết qủa xét nghiệm thấy Tâm khí hư, ít huyết, suy nhược, mất máu,
nói không ra hơi, tâm hư không nuôi tỳ vị ăn không vào.
c-Trầm
Huyền ở Tâm : là kết qủa xét nghiệm đọc được bệnh ở gan lấn sang Tâm làm cho lúc
đói dữ ăn nhiều, lúc no thì căng đầy bụng làm mệt đau.
4-Mạch
Huyền ở Tỳ bộ:
a-Phù,
Đại, Huyền chạy luôn đến Thốn bộ : là kết qủa xét nghiệm đọc được do phong tà
truyền vào người cho nên khi ngủ miệng hay chảy nước dãi.
b-Phù,
Huyền : là kết qủa xét nghiệm đọc được do Can khí mạnh qúa hại Tỳ thổ làm tay
chân co quắp, hoặc rời rã mệt mỏi hoặc làm sốt rét, đi kiết lỵ.
5-Mạch
Huyền ở Can bộ :
a-Huyền
: Huyền ở can bộ lên đến Thốn bộ là kết qủa đọc được nhức đầu chóng mặt, đầu
nặng trĩu, gân mạch đau buốt, cao áp huyết do gan ,
b-Huyền
Hoãn : là kết qủa xét nghiệm đọc được Gan và vị khí của người khỏe mạnh không có
bệnh .
c-Vi,Huyền
: là kết qủa xét nghiệm đọc được Túi mật bị tà khí xâm nhập sinh vàng da, chân
tay mặt mũi và nước tiểu đều vàng.
d-Huyền,
Sác : là kết qủa xét nghiệm đọc được phong nhiệt phạm gan thành hỏa thiêu cân,
gân chân tay co rút.
e-Trầm,
Huyền, Khẩn, Thực : là kết qủa xét nghiệm đọc được Thận khí không đủ nuôi gan
làm gan bị khí tụ gây bệnh đau cạnh sườn.
6-Mạch
Huyền ở Thận bộ :
a-Trầm,
Khẩn, Hoạt, Huyền : là kết qủa xét nghiệm đọc được Thận bị phong tà, thấp khí
làm lưng đùi nhức mỏi.
b-Trầm
Huyền : là kết qủa xét nghiệm đọc được Bao tử hàn nên Vị thổ không khắc chế được
Thận thủy nên khí đọng ở hạ tiêu làm lưng bụng dưới và chân phù thủng..
7-Mạch
Huyền ở Mệnh môn bộ :
Phù,
Huyền : là kết qủa xét nghiệm đọc được bụng dưới ứ đọng nước dưới rốn làm quặn
đau, mất chức năng chuyển hóa thận dương.
D-KHÁM BỆNH CHUYÊN
KHOA BẰNG MẠCH :
Bài
viết này chuyên đề chỉ đề cập đến bệnh liên quan với mạch Huyền :
1-Bệnh
thương hàn cảm lạnh :
Dương
bệnh mạch âm như Trầm, Huyền, Vi, Nhược thì chết.
2-Bệnh
thương phong, cảm gió :
Nếu
có mạch Huyền hoặc Sác là Tà phong đã xâm nhập vào 6 kinh ( tam âm tam
dương.)
3-Bệnh
thương thử cảm nắng :
Nếu
có Mạch Huyền, Hồng, Khâu, Trì là bị cảm nắng mà cơ thể âm dương đều thịnh .
4-Bệnh
thương thấp :
Nếu
có Mạch Huyền Hoãn là Phong mộc và Thấp thổ xung khắc làm đau nhức.
5-Bệnh
thương táo :
Nếu
có mạch Phù Huyền là chứng táo hàn (khô hanh do lạnh).
6-Huyết
bệnh :
a-Nếu
có Mạch Trầm Huyền : Xuất huyết mũi, mặt nhợt nhạt, mắt mờ, ngắn hơi thở khó,
bụng dưới đầy do lao thương vất vả qúa nên âm hư .
b-Nếu
có Mạch Huyền ở phế bộ : do lao lực vất vả ho ra máu.
c-Nếu
có Mạch Huyền Tuyệt : Trong ruộc tích huyết ứ nhiệt độc do vi trùng làm mủ , đi
cầu ra mủ , khó chữa.
7-Đàm
bệnh :
a-Nếu
có Mạch Huyền : là do khí bị tổn hại sinh đàm, có nghĩa là dưỡng trấp do khí hóa
bị trục trặc không sinh vinh huyết, vệ khí, nên biến thành đàm..
b-Nếu
có Mạch Huyền ở cả 2 tay Nhân nghinh, Khí khẩu do ăn thức ăn có hàn khí không
tiêu như qúa nhiều rau xanh, cam, bơ sữa, dầu, chuối, kem lạnh….
c-Nếu
có Mạch Phù, Huyền, Đại, Thực là có đàm đặc nghẹt trong phổi.
8-Bệnh
trên đường kinh mạch :
Nếu
có Mạch Huyền Hoạt do đàm, Cholesterol làm nghẹt ống mạch.
9-Bệnh
nhức đầu :
Nếu
có Mạch Huyền do dương thịnh.
10-Đau
mắt :
Nếu
có Mạch Huyền do Can mộc phát hỏa.
11-Đau
miệng lưỡi :
Nếu
có Mạch Huyền, Sác, Hư do Đởm hư suy
12-Đau
răng :
Nếu
có Mạch Huyền, Hồng do bao tửvà ruột bị phong tà hỏa nhiệt .
13-Đau
phong thấp trong xương : Nếu có Mạch Huyền Trầm.
14-Đau
đốt xương : Nếu có Mạch Huyền Trầm do uống rượu rồi tắm làm thủy hại tâm
hỏa.
15-Ho
do thiếu máu : Nếu có Mạch Huyền Sắc.
16-Ho
do trong phổi có nước : Nếu có Mạch Huyền.
17-Đau
bụng tiêu chảy : Nếu có Mạch Huyền Hoạt ăn không tiêu do bao tử nhiệt làm đình
trệ thức ăn biến thành đàm lỏng đi tiêu chảy.
18-Đau
tim do huyết thì Mạch Huyền.
19-Đau
bụng có thể chết : Nếu có Mạch Phù, Đại, Huyền, Trường .
20-Sốt
rét : Nếu có mạch Huyền Sác do báng tích nóng nhiều làm sốt nóng hơn sốt rét,
ngược lại nếu có mạch Huyền Trì thì rét lạnh nhiều hơn nóng.
21-Kiết
lỵ : Nếu có mạch Huyền Hồng mình nóng nhiều là bệnh nguy hiểm.
23-Bệnh
bụng trướng to đầy ách : Nếu có mạch Huyền là do Can mộc khắc Tỳ thổ.
24-Bệnh
đau lưng do thận hư tổn : Nếu có Mạch Huyền Đại.
25-Bệnh
Sán Khí gốc ở gan :
a-Nếu
có Mạch Huyền do vệ khí không thông nên cơ thể sợ lạnh.
b-Nếu
có mạch Huyền Khẩn do bao tử bị nhiệt khí của can làm hại.
26-Đau
nhức ống chân (Cước khí) : Nếu có mạch Phù Huyền là do phong tà xâm nhập.
27-Đau
hông sườn : Nếu có Mạch Huyền cả 2 tay là do can khí thịnh qúa.
28_Bệnh
đường tiểu : Nếu có mạch Phù, Huyền, Sắc là tiểu không thông do nhiệt thịnh.
29-Ung
thư hay bướu ở gan : Nếu có Mạch Huyền Tế ở Can bộ .
30-Bệnh
ói mửa : Nếu có Mạch Huyền Hoạt ở cả 2 Thốn bộ .
31-Bao
tử hư suy : Nếu cóMạch Huyền
32-
Bệnh phụ nữ tuột âm hộ ra ngoài : Nếu có mạch Huyền
33-Ngực
tê tim đau : dương chủ mở, âm chủ đóng. Nếu có Mạch âm Huyền là thái qúa, dương
hư mà âm tới làm tim đóng lại .
Đây
mới chỉ bàn đến một mạch Huyền và đã có người hỏi bệnh Mạch Huyền chữa làm sao,
nghe chừng tưởng dễ nhưng chữa bệnh gì, bệnh nào thì chưa biết, vì đây chỉ là
kết qủa xét nghiệm mà cơ thể đã để lại ký hiệu bằng mạch cho Thầy thuốc chẩn
đoán và định bệnh theo ngũ hành để tìm ra chứng, từ chứng mới đối chứng trị liệu
để tái lập lại quân bình âm dương khí huyết, hư thực, hàn nhiệt .
Thực
ra Mạch bệnh đông y đã đúc kết thành tự điển gồm 257 loại bệnh căn bản, 36 loại
bệnh phụ khoa có những mạch nhất định riêng biệt của nó được xếp loại như sau
:
a-18
loại dương bệnh ngoài tạng phủ thuộc vinh vệ khí ở các vùng đầu, gáy, eo lưng,
xương sống, tay chân.
b-18
loại âm bệnh trong tạng phủ do ảnh hưởng hư thực của khí huyết làm ra như ho,
hơi kéo lên, suyễn, ói mửa, nghẹn, sôi ruột, trướng đầy, tim đau, co quắp gồm 9
bệnh hư, 9 bệnh thực.
c-198
loại bệnh của lục phủ ngũ tạng, vì mỗi tạng phủ có 18 loại bệnh do lục dâm làm
hại như Khí thọ tà, Huyết thọ tà, Khí huyết cũng bị tà (3 loại thọ tà x 6 lục
dâm=18 loại). (5 tạng +6 phủ )x 18 loại bệnh = 198 loại bệnh.
d-5
loại bệnh lao tổn do nội tà trong 5 tạng.
e-7
loại bệnh nội tà do biến đổi tâm lý thất tình lục dục.
f-6
loại bệnh cực khổ ( lục cực) do thức, ngủ, ăn, uống, tình, chí, không điều
độ.
g-5
loại tà trúng vào người như :phong là dương trúng đằng trước thân thể, hàn là âm
trúng đằng sau, thấp trọc trúng từ dưới lên, sương thuộc thanh khí trúng từ trên
xuống, hàn làm tổn thương kinh mạch âm, nhiệt làm tổn thương kinh mạch dương
.
Đó
là 257 loại bệnh tiêu chuẩn, nhưng chưa đủ nó còn biến chứng truyền kinh do hư
thực. Do hư thì truyền từ mẹ sang con, truyền theo cặp âm dương cùng hành. Còn
thực chứng thì có thể quậy phá truyền đến tất cả 5 hành, ngoài ra chưa kể đến
các bệnh ngoại khoa răng, hàm, mặt, tai, mắt, mũi, họng và các loại bệnh do chữa
sai gây ra biến chứng thành các bệnh nan y khác.
Tôi
cũng đã có ý định tìm cách chế ra một sensor có đủ chức năng 28 mạch bệnh và 7
tử mạch truyền sóng mạch thành biểu đồ hiện lên màn hình oscilloscope và dùng 3
sensor gắn vào đầu ngón tay thầy thuốc đo 3 mức đô đè nhẹ lên Thốn, Quan, Xích
để đo mạch của phủ, đè mạnh vừa để đo mạch của tạng và đè ấn sâu sát xương để
tìm bệnh nan y trong lý, làm được như vậy cũng đã khó nhưng 3 sensor này phải
liên kết có thể bắt mạch để biết chiều chạy của bệnh thuận nghịch, trường đoản,
và cũng phải bắt được những dạng sóng do Mạch pha trộn 2,3,4 mạch trên một vị
trí , và cũng phải tách riêng được mạch biểu thực lý hư, lý thực biểu hư .
Đối
với Tây y chỉ một cái máy đọc được một biểu đồ tim mạch hay não cũng đã khó
,huống chi là một máy quá phức tạp, do đo ngay tại các nước Á Châu như Trung
Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn chữa bệnh bằng đông y mà vẫn chưa có thể sáng chế ra được
máy đo mạch chính xác như 3 ngón tay bắt mạch của Thầy thuốc, đến đây chúng ta
mới biết các thầy thuốc đông y cổ xưa đã có một nền khoa học cổ thông minh hơn
chúng ta ngày nay, và chính chúng ta đã làm chết dần môn đông y do chưa học thấu
đáo tường tận mới sinh tâm bài khích.
doducngoc


17:41
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét