Chung
quanh ta chỗ nào cũng có cây cỏ đủ loại, nhiều đến nỗi chúng ta không thể biết
được hết tên chúng là gì, ngày xưa các y sinh nghiên cứu về thuốc cây cỏ đều có
một thắc mắc làm sao phân biệt được cây nào là thuốc, cây nào không phải là
thuốc. Để giải đáp thắc mắc ấy, vị sư phụ cho một công trình nghiên
cứu ‘’Hãy tìm xem những cây nào không phải là thuốc
? ‘’.
A-Áp
dụng tiêu chuẩn tính-khí-vị :
Họ
áp dụng tiêu chuẩn tính-khí-vị của cây cỏ đem
tác động vào lục phủ ngũ tạng và nhận thấy mạch khí trước và sau khi dùng cây cỏ
có sự biến đổi khác nhau, có tác dụng khí hoá tốt hoặc xấu đối với cơ thể con
người theo quy luật sinh khắc ngũ hành. Do đó đông y kết luận cây cỏ nào cũng
đều là cây thuốc .Có những cây chúng ta đã biết, có những cây chúng ta chưa biết
còn đang nghiên cứu.
Theo
định nghĩa tổng quát của đông y, thức ăn hay thuốc uống cũng đều là thuốc đi vào
cơ thể bằng ba yếu tố tính-khí-vi .
Vị
là một chất dẫn thuốc đi vào tạng phủ, có 5 vị khác nhau như mặn, ngọt, chua,
cay, đắng. Vị mặn đi vào thận và Bàng quang, vị ngọt đi vào bao tử và lá lách,
vị chua đi vào gan mật, vị cay đi vào phổi và ruột già, vị đắng đi vào tim và
ruột non. Vị có đậm có nhạt, vị đậm gọi là hậu, thì tạo ra tính thẩm thấu vào
tạng phủ nhiều hơn, vị nhạt gọi là bạc, thì thuốc thấm vào nhẹ hơn, còn tác dụng
tốt hay xấu của thức ăn hay thuốc uống lệ thuộc vào tính và khí của chất đó.
Tính
của nó là làm cho cơ thể tăng sức nóng ấm thì gọi là tính nhiệt. Nếu nó làm cho
cơ thể mất sức nóng thì gọi là tính hàn.
Khí
của thức ăn hay thuốc uống giúp cho cơ thể sau khi hấp thụ sẽ tạo ra khí lực vận
chuyển trong cơ thể làm cho khỏe lên hay yếu đi ( bổ hay tả ),làm khai thông chỗ
bế tắc, làm cho khí huyết hòa hoãn, làm tiêu sưng, làm cho đi lên, đi xuống, đi
vào trong, đi ra ngoài, đông y gọi là bổ, tả, hòa, thông ,tiêu, thăng, giáng,
liễm, xuất...
Trong
qúa trình sử dụng thuốc cây cỏ để tươi dùng ngay, hay phơi khô thì gọi là thuốc
nam,( thuốc của người Việt Nam, người Hoa gọi là dược thảo ), có cái lợi là
những hoạt chất của thuốc còn đủ chưa bị biến mất, công hiệu của thuốc mạnh hơn,
hữu hiệu hơn, nhưng nếu cây cỏ để lâu mới dùng đến thì tính khí của thuốc sẽ bị
mất cho nên chúng cần phải được sao chế để bảo quản, sau khi sao chế chúng trở
thành thuốc bắc. Tên gọi thuốc bắc là do người Trung quốc ở phương bắc nước ta
có kỹ thuật chế biến thuốc sống thành thuốc chín, có nghệ thuật và kỹ thuật chế
biến độc đáo riêng, có thể làm cho một chất có độc mạnh trở thành ít độc, chất
thuốc ít khí vị trở thành chất thuốc mạnh có nhiều khí vị hơn. Cách sao chế có
thể tạo ra được nhiều công dụng chữa bệnh khác nhau do sự thay đổi tính-khí-vị
của thuốc nguyên thủy.
Thí
dụ như cỏ cú có nhiều công dụng tùy theo cách sao chế :
Cỏ cú tên thông dụng
gọi là hương phụ, là loại củ mọc ở bãi biển, củ mập to chắc, ruột hồng nhạt, có
mùi thơm. Khi dùng phải phơi thật khô, gĩa với trấu bằng chầy nhọn cho trụi hết
lông .Khí của nó là chất chính dùng điều khí, khai uất, thông kinh, hóa đờm,
tiêu tích ứ, bổ khí huyết. Người xưa chế biến nó rất công phu gọi là hương phụ
tứ chế. Dùng 1 kg hương phụ sống chia 4 phần, một phần tẩm 200ml dấm, một phần
tẩm 200ml đồng tiện ( nước tiểu nhi đồng ), một phần tẩm 200ml dung dịch muối
15%, một phần tẩm 200ml rượu 40 độ.
Mỗi phần tẩm xong để một đêm, rồi giã
dập, sao khô có mùi thơm là được, phải cất trong lọ kín và chỉ dùng được trong
2-3 tuần mà không để lâu được. Nhưng qua kinh nghiệm của nhiều bậc danh y cổ
đại, có nhiều cách chế biến và phối hợp với chất khác để chữa nhiều bệnh khác
nhau như :
Muốn
cho khí dẫn lên ngực dùng sanh hương phụ ( hương phụ sống ).
Muốn dẫn khí đi
xuống gan thận dùng thục hương phụ ( hương phụ chế chín ).
Muốn cầm liễm
không cho ra máu thì rang hương phụ cho khét.
Muốn bổ huyết hư thì rang sơ
hơi vàng.
Muốn chữa huyết, nhuận táo thì ngâm nước muối nhạt rồi rang
sơ.
Muốn bổ thận khí thì rang với muối hột.
Muốn thông kinh hoạt lạc thì
ngâm rượu rồi rang.
Muốn tiêu tích tụ thì ngâm dấm rồi rang.
Muốn tiêu đờm
thì rang với nước gừng.
Rối loạn tiêu hóa, bụng đầy đau thì dùng 4g hương phụ
+ 8g riềng khô. Hai thứ tán bột uống với nước nóng...
Muốn điều kinh bổ huyết
thì dùng hương phụ với ngải cứu .
Vì
thế một thầy thuốc đông y phải biết đến tính-khí-vị của thuốc hay của thức ăn,
xem thuốc dẫn vào đâu, dẫn vào mạnh hay nhẹ, nhiều hay ít, làm cơ thể nóng hay
lạnh, nóng nhiều làm táo bón khô khát, lạnh nhiều làm tiêu chảy sưng phù, khí
của thuốc là bổ hay tả, hòa, thông, tiêu, thăng giáng, liễm, xuất. Ngược lại,
thầy thuốc cũng có thể nếm thuốc để phân biệt tính-khí-vị của thuốc mà bệnh nhân
đã uống để biết họ đang uống thuốc chữa bệnh gì, và bắt mạch xem thuốc đó có phù
hợp trúng với bệnh tình không.
Áp
dụng cách phân tích tính-khí vị của một chất thuốc vào tây y chúng ta thấy cũng
có những điểm tương đồng, chẳng hạn như thuốc trị đau bao tử có công hiệu của
tây y là Malox , Magnésium.
Malox thành phần chính của thuốc là cam thảo.
Theo đông y, vị ngọt dẫn thuốc vào bao tử, tính làm trung hòa giải các thứ độc,
khí làm điều thông khí huyết, có tính thăng khí, dùng nhiều sẽ làm cho tăng áp
huyết.
Magnésium là loại bột vị ngọt nhạt dẫn vào bao tử, tính hàn, hòa
hoãn, tráng vách thành bao tử để chữa loét, khí đi xuống đẩy phân ra
.
Tuy nhiên có những công ty bào chế dược phẩm đã tăng thành phần chính
của thuốc nhiều hơn các hãng khác hy vọng nó hiệu nghiệm hơn, mùi vị cũng khác,
nhưng không để ý đến chất dẫn theo quy luật là vị ngọt, mà đổi thành vị cay sẽ
dẫn thuốc vào phổi, vị đắng sẽ đem thuốc vào tim, vị chua sẽ đem thuốc vào gan,
vị mặn sẽ đem thuốc vào thận. Phổi, tim, gan, thận, không cần magnésium tự nhiên
bị chất thuốc bám vào làm tắc nghẽn sinh phản ứng phụ như khó thở, mệt tim, sưng
phù...còn thuốc không được dẫn vào bao tử nên bao tử vẫn chưa được chữa.
Nói
như vậy thì dù thuốc là đơn chất để chữa một tạng phủ hay một chỗ, hoặc hợp chất
để chữa hai hay nhiều tạng phủ, hoặc hợp chất là một món ăn thức uống, đông y
lúc nào cũng chú trọng đến tính-khí-vị trong mục đích chữa bệnh để điều hòa sự
khí hóa chung cho cơ thể, và cách chữa thì áp dụng theo tám phương pháp căn bản
của đông y ( bát pháp ), tùy theo sự chọn lựa phương pháp chữa của thầy thuốc mà
đông y chia hạng thầy thành ba bậc. Bậc hạ công thì chữa ngọn, thấy kết qủa
ngay, kiếm tiền dễ, mau nổi tiếng, nếu có biến chứng sang bệnh khác lại chữa
tiếp bệnh khác, đó là cách chữa bá đạo, nuôi bệnh đi vòng vòng. Bậc trung công
vừa chữa ngọn vừa chữa gốc, là cách chữa y đạo. Bậc thượng công gọi là thầy
thuốc chữa khi chưa bị bệnh, có nghĩa là khi khám bệnh chẩn mạch cho một người
họ cảm thấy có những biến đổi âm thầm trong cơ thể tây y tìm không thấy bệnh,
nhưng bậc thượng công bắt mạch biết được hư thực của một tạng nào đó, nếu không
chữa ngay nó sẽ truyền sang tạng khác thành hai tạng cùng bị bệnh, thí dụ khám
biết tạng gan thực sau nó sẽ hại tạng tỳ nên bậc thượng công phải giúp tỳ mạnh
lên, và làm cho tạng gan yếu bớt, đó là cách chữa khi chưa bệnh. Bậc thượng công
phải vừa chữa ngọn, vừa chữa nguyên nhân gốc, vừa ngừa biến chứng. Chữa theo
cách này bệnh nhân sẽ hết bệnh, không bị tái phát, không cần phải trở lại gặp
thầy thuốc, thế gian gọi là thầy có tiếng mà không có miếng, đó là cách chữa
vương đạo.
B-Áp
dụng tiêu chuẩn Bát pháp :
Cơ
thể bị bệnh đều phải khám theo tứ chẩn, quy kinh chẩn pháp, xác định bằng huyệt
trên lưng và các nguyên huyệt, tả huyệt trên các đường kinh ,để định được bệnh
thuộc kinh nào,chứng âm hay dương, về khí hay huyết, bị hư hay thực, cơ thể hàn
hay nhiệt, bệnh mới phát còn ở biểu hay đã vào lý, theo tiêu chuẩn Bát cương (
âm, dương, hư, thực, hàn, nhiệt, biểu, lý), từ đó mới quyết định lập ra một
trong tám phương pháp đối chứng trị liệu là Bát Pháp gồm có : Ôn, trấn, thanh,
hòa, xuất, liễm, bổ, tả. Thí dụ như trong bát cương, bệnh thuộc âm là huyết bị
bệnh, thì đối chứng trị liệu theo bát pháp là phải dùng dương thuộc khí để chữa
âm, ngược lại dương bệnh thuộc khí, phải dùng âm thuộc huyết để chữa. Hư thì đối
chứng trị liệu phải dùng phép bổ. Thực thì đối chứng trị liệu phải dùng phép tả.
Bệnh thuộc hàn, đối chứng trị liệu phải dùng phép ôn là làm cho ấm nóng. Bệnh
thuộc nhiệt đối chứng trị liệu phải dùng phép tả, nếu bệnh còn ở biểu thì cho
xuất mổ hôi nhiệt (xuất hãn), nếu bệnh trong lý phải cho mát gọi là thanh nhiệt.
Bệnh tà khí vào đến bên trong tạng phủ thì chia thành ba vùng mà bệnh cư trú như
thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu, nếu bệnh còn ở thượng tiêu phải cho ói mửa ra
gọi là thổ, ở trung tiêu phải cho hòa giải, ở hạ tiêu phải cho hạ tống tà khí ra
ngoài bằng tiêu tiểu. Nếu bệnh đau nhức thì phải dùng phép trấn thống thần kinh
(giảm đau). Nếu bệnh hư thoát khí, huyết, mồ hôi phải giữ không cho mất thêm
bằng phép liễm khí, cầm huyết, cầm mồ hôi, nếu thoát tinh phải giữ lại gọi là cố
tinh bổ thận..Còn nếu bệnh do lục khí của thời tiết như phong, hàn, thủy, thấp,
táo, nhiệt, đối chứng trị liệu cần phải tả, có tên riêng gọi là khu phong, tán
hàn, trục thủy, lợi thấp, nhuận táo, tán nhiệt...
1-Cách
sử dụng phương pháp ôn :
Ôn
là làm ấm, nóng, sử dụng ngoại dược hay huyệt nội dược để chữa các bệnh đã làm
cho cơ thể bị lạnh như phong hàn, thấp hàn, hư hàn, khí hư, hàn đàm hoặc dương
hư, nhiều đàm nhớt.
Nếu cơ thể mới bị hàn tà xâm phạm thì dùng phép ôn, nếu
qúa hàn, thì không chữa theo ôn bổ, mà phải nhiệt bổ có nghĩa là dùng phép ôn
mạnh hơn gọi là phép tăng nhiệt.
Nếu hàn ở thượng tiêu phải làm ấm phổi (như
bệnh ho suyễn hàn).
Nếu bệnh hàn ở trung tiêu phải ôn trung hay lý trung tiêu
(làm ấm tỳ vị, như bệnh tỳ vị hư hàn, ăn không tiêu, không chuyển hóa, đông y có
bài thuốc lý trung thang gồm 4 vị là nhân sâm, càn cương, bạch truật, cam
thảo).
Nếu bệnh ở hạ tiêu bị hư hàn (như đau bụng, tiêu chảy, tiểu
nhiều..)phải tăng nhiệt phục hồi dương khí như phép hồi dương cố thoát, đông y
có bài thuốc tứ nghịch thang gồm 3 vị là chích thảo, càn cương, sanh phụ
tử).
Chống chỉ định :Thoát huyết, huyết hư, âm hư sinh nội nhiệt thì không
được dùng phép ôn.
2-Cách
sử dụng phương pháp trấn :
Trấn là trấn áp, tác động trực tiếp lên hệ
thần kinh làm cho giảm đau nhức gọi là trấn thống thần kinh, hoặc làm cho không
sợ hãi gọi là định tâm an thần, đôi khi đau nhức do tuần hoàn khí huyết bị bế
tắc chỉ cần giải khai chỗ bế tắc cho thông cũng sẽ hết đau, hoặc hỏa khí, hoặc
đờm, hay can khí nghịch lên trên cần phải trấn áp không cho lên mà đè xuống cũng
gọi là phép trấn.
3-Cách
sử dụng phương pháp thanh :
Thanh hoặc lương là làm mát chữa các
chứng nóng thuộc ôn nhiệt gồm hai loại nhiệt : thực nhiệt và phiếm nhiệt.
Trị
nóng thực nhiệt cần phải tiết tả nhiệt trong trường hợp sốt nóng hừng
hực.
Trị nóng phiếm nhiệt là nóng hâm hấp, lan tỏa không dữ dội, không cần
phải tả hạ nhiệt nhanh, mà chỉ cần thanh nhiệt làm mát, cả hai cách đều là
thanh, đông y gọi là thanh nhiệt, thanh khí, thanh huyết nhiệt giải độc, lương
huyết nhiệt (làm mát máu).
Chống
chỉ định : Không được dùng phép thanh trong bệnh hư nhiệt cũng làm sốt nóng, hư
cần phải bổ, phải dùng phép ôn bổ, nếu dùng phép thanh là sai lầm sẽ làm bệnh hư
thêm .
Nếu bệnh nóng sốt ít thì thanh nhiệt ít không được tả nhiệt nhiều, nếu
không bệnh nhân bị lạnh, trong trường hợp sau khi thanh nhiệt bệnh nhân hết nóng
sau đó lại bị nóng trở lại là trong người còn có phong tà chưa ra hết, cần phải
đuổi phong ra (gọi là khu phong, trục phong), phải chọn huyệt khu phong thanh
nhiệt...
4-Cách
sử dụng phương pháp hòa :
Hòa
là hòa giải sự xung khắc lẫn nhau trong trường hợp bệnh bán biểu bán lý, chỉ
thanh nhiệt mà không cho ra mồ hôi, trong trường hợp nghi ngờ bệnh hư thực thác
tạp, giữa âm dương tương tranh, hàn nhiệt vãng lai, những trường hợp bệnh ở
trung tiêu không thể dùng bổ, cũng không dùng được tả, không dùng được phép
xuất, cũng không dùng được phép liễm, lúc đó phải dùng phép hòa giải, bao gồm cả
phép khai thông chỗ bế tắc, phép thăng đưa khí lên khi khí bị hạ hãm, và phép
giáng khi khí bị thượng nghịch hoặc bị ngăn chặn không xuống được.
5-Cách
sử dụng phương pháp xuất :
Xuất
là làm cho tà khí ra da bằng đường mồ hôi, đông y gọi là phép hãn.
Xuất cho
ra ngoài bằng miệng, làm cho ói mửa thức ăn, đông y gọi là phép thổ.
Xuất cho
ra ngoài bằng đường phân, đường tiểu, đông y gọi là phép hạ.
Nguyên
nhân gây bệnh trong đông y bao gồm nguyên nhân không do vi trùng như phong thấp
đau nhức hoặc do vi trùng, vi khuẩn, siêu vi, virus..làm ra bệnh, đông y đều gọi
chung là tà khí. Khi chữa bệnh đông y chỉ chú trọng đến nguyên tắc tái lập lại
quân bình âm dương khí huyết, cơ thể sẽ tự điều chỉnh cho khỏi bệnh.
a-
Phép hãn : ( Cho xuất mồ hôi ).
Khi
tà khí còn ở ngoài, như trong bệnh biểu nhiệt, sốt nhiệt, ngoại cảm phong, hàn,
thực nhiệt, bệnh thủy thủng, ban chẩn, và bệnh còn ở trên thượng tiêu chưa vào
đến trung tiêu.. cần phải đuổi tà khí ra khỏi da lông bằng đường mồ hôi để tà
khí không xâm nhập sâu vào cơ thể trong tạng phủ .Phát hãn mạnh trong bệnh ngoại
cảm hàn, thấp hàn. Chứng phong, hỏa, thử, và táo, chỉ phát hãn nhẹ cho da vừa
rịn mồ hôi là để đuổi tà khí ra mà không làm mất nước cơ thể, trong bệnh cảm
nhiệt, thấp nhiệt.
Chống chỉ định : Không dùng phép hãn khi cơ thể hư nhược,
gầy yếu, tân dịch khô khan( không có nước miếng, nước bọt), da lông khô, môi
họng khô, mặc dù có sốt nhưng sốt âm ra mồ hôi trộm, bệnh đã vào đến trung tiêu
làm đau bụng quanh rốn như sôi bụng, nếu phát hãn gây ra biến chứng nguy
hiểm.
b-Phép
thổ : ( Cho mửa).
Phép
thổ là làm cho nôn mửa ra những thức ăn có độc hoặc những thức ăn lâu ngày không
tiêu hóa còn giữ lại trong bao tử, hoặc đờm chặn cổ họng không xuống được khiến
hay nôn oẹ muốn ói mà không ói ra được, hoặc nó làm khó thở, ngực đầy, uất nghẹn
thượng tiêu. Khi cơ thể muốn ói là chính khí ở trung tiêu còn mạnh, muốn đẩy tà
khí ra không cho xâm nhập sâu vào cơ thể là một phản ứng tự động, cho nên trong
cách chữa bằng phép thổ là giúp cơ thể tống tà khí ra không cho tà khí đi xuống
sẽ hại đến trung tiêu là trường vị. Đông y thường sử dụng thuốc ngoại dược gây
mửa ,có 5 loại gây mửa khác nhau :
-Do bao tử hàn hoặc thức ăn hàn, phải dùng
thuốc làm ấm như gừng, quế.
-Do bao tử nhiệt hoặc thức ăn nhiệt, phải dùng
thuốc mát như khổ trà, chi tử.
-Do dùng thức ăn để lâu hư thối, có độc, ăn
không tiêu, muốn mửa không ra được, phải dùng nước muối hay bột cải.
-Do đờm
nhớt chặn họng khó thở, cho mửa bằng nước vỏ quít.
-Do bao tử đầy hơi làm
nghẹn thở, cho mửa bằng chỉ thiệt, hậu phác.
Chống chỉ định : Không được cho
mửa trong trường hợp người có cơ thể suy nhược, người già, phụ nữ có thai, người
bị khí hư, mạch hoãn, băng huyết.
c-Phép
hạ : (Cho thoát xuống dưới )
Phép
hạ là đuổi tà khí ở hạ tiêu ra khỏi cơ thể bằng cách cho xổ phân và nước tiểu
trong trường hợp trường vị tích trệ, tích nhiệt, tích độc sinh ra sốt nhiệt,
hoặc bón lâu ngày, hoặc trường vị căng cứng đầy ăn không vào, hoặc kiết lỵ, hoặc
mỗi lần đi cầu lỏng ra phân xanh kèm đau vùng bao tử là do tà khí còn tích ở
trường vị chưa ra hết. Đông y thường sử dụng bài Thừa khí thang (Tiểu thừa khí,
đại thừa khí, điều vị thừa khí thang).
Chống chỉ định : Không được cho xổ
trong bệnh không thuộc bệnh tích trệ trường vị, bệnh nhân muốn ói không được cho
xổ, cơ thể yếu thiếu hơi, thiếu khí, mạch vô lực, chứng âm hư tân dịch khô cạn,
ăn uống ít, bao tử yếu, nhu động ruột không co bóp đẩy phân ra lầm tưởng là bón
(bón giả), hoặc phân ra nhão ít một thuộc bệnh trường ung ( ung thư ruột ), liệt
ruột, tiêu chảy hay bón giả tức là hai ba ngày thậm chí một tuần mới đi cầu một
lần đi phân nhão lỏng là do thiếu khí đẩy phân ra.
Trong trường hợp bắt buộc
phải dùng phép hạ thì bệnh hư sẽ hư thêm, nên phải tả hạ ít hơn, bổ hư nhiều hơn
cho chính khí mạnh mới giúp bệnh mau bình phục.
6-
Cách sử dụng phương pháp liễm :
Ngăn
giữ không cho thoát mất tinh, khí, huyết, thủy dịch làm mất nước trong bệnh toát
mồ hôi đầm đìa, tiêu chảy không ngừng, máu chảy nhiều, xuất tinh di tinh mộng
tinh.
Liễm hay sáp là cầm giữ làm ngăn lại sự thoát mất tân dịch có nhiều tên
gọi khác nhau tùy theo trường hợp :
·
Liễm : như chứng đổ mồ hôi không cầm lại được phải liễm mồ hôi, chứng thoát khí
phải liễm khí.
· Cố : là củng cố, duy trì, gìữ lại, trong phép hồi dương cố
thoát ,chứng thoát tinh phải cố tinh bổ thận.
· Cầm : chứng băng lậu xuất
huyết chảy máu phải cầm máu, chứng đái iả tiêu chảy không ngừng phải cầm tiêu
chảy...
Phương pháp liễm tùy theo chứng bệnh để liễm, sáp, cầm, cố có thể sử
dụng huyệt bổ, có thể dùng huyệt tả để đạt được mục đích.
7-
Cách sử dụng phương pháp bổ :
Bổ
là phương pháp phục hồi hư tổn trong các bệnh thuộc hư chứng để làm cho cơ sở
hay chức năng của tạng phủ mạnh lên giúp mau khỏi bệnh. Bổ có nhiều tên gọi tùy
mỗi trường hợp khác nhau và bổ ở mỗi người mỗi khác theo nguyên nhân và xét theo
hư thực :
· Tuấn bổ : Bổ mạnh đối với bệnh hư nhiều.
· Tư bổ : Bổ từ từ áp
dụng trong bệnh mới hư nhẹ.
· Điều bổ : Vừa chữa bệnh vừa bổ áp dụng trong
trường hợp người vốn hư yếu nay lại bị một bệnh khác như cảm mạo, phải vừa chữa
bệnh vừa bổ hư gọi là điều bổ.
· Tiếp bổ : là bổ thêm âm hoặc bổ thêm dương,
một trong hai. Như bổ khí hư làm cho tỳ và vị mạnh.
· Dưỡng âm, tư âm : là bổ
hư tổn phần âm.
· Lương huyết : vừa bổ vừa làm mát máu gọi là lương
huyết.
· Hành khí, hoạt huyết : Làm cho khí huyết chạy trơn tru không trở
ngại.
· Ôn dương, thanh dương : là bổ hư tổn phần dương cho ấm lại hoặc cho
mát lại.
· Lý khí : Điều chỉnh, chấn chỉnh lại sự khí hóa , cho tạng phủ hoạt
động mạnh hơn, tốt hơn.
Bệnh
thực không được bổ, nếu không tà khí sẽ mạnh thêm khiến cho bệnh nặng hơn. Ngay
cả trường hợp người vốn suy nhược lại mắc bệnh cảm, nếu chỉ bổ thì tà khí mạnh
hơn chính khí sẽ làm cho bệnh nặng thêm, trường hợp này phải vừa tả tà khí vừa
bổ chính khí.
Nhưng hãy coi chừng bệnh gốc là cực hư tương phản với dấu hiệu
lâm sàng lầm tưởng là thực như mạch phù đại, mặt đỏ tối mà váng đầu, cần phải bổ
không được tả làm hư thêm hư.
Nếu bệnh thủy hư có dấu hiệu môi miệng da khô
không bổ thủy mà bổ hỏa càng làm mất thủy, hoặc ngược lại đáng bổ hỏa hư có dấu
hiệu người lạnh, tiểu nhiều nước trong, da phù láng bóng, lại lầm bổ thủy làm
thủy dập tắt mất hỏa thêm.
Áp
dụng phương pháp bổ phải đúng nhu cầu của tạng phủ, chữa thuốc phải đúng với
bệnh mới hết bệnh. Nhiều người sai lầm khi cảm thấy yếu hơi sức, mệt mỏi ăn uống
không được nên đã lạm dụng thuốc bổ sâm nhung làm cho tỳ vị vốn đã hư thêm hư,
sinh no hơi sình bụng, tức ngực, khó thở, mệt tim, xáo trộn áp huyết. Thực ra
nguyên nhân của bệnh là tỳ vị hư hàn.
8-
Cách sử dụng phương pháp tả :
Tả
là làm yếu đi, mất đi, đuổi đi, mục đích của cách dùng khác nhau nên có nhiều
tên gọi khác nhau như :
Trong trường hợp bón uất nhiệt từ ba ngày trở lên ở
hạ tiêu. Dùng thanh nhiệt ở tạng phủ, ở trường vị, ở bàng quang, tả độc tích tụ,
miệng họng khô, kiết lỵ, bao tử đầy cứng. Tả xong phải bổ hư tổn.
Chống chỉ
định : Không được dùng phép tả trong trường hợp âm hư, tân dịch khô kiệt, vô lực
yếu sức, ăn ít, thiếu khí.
Tả
thực : Khi sự khí hóa của đường kinh, qúa mạnh, hoặc có tà khí lưu trú ở tạng
phủ, cần phải sử dụng huyệt tả trong ngũ du huyệt của đường kinh.
Tiết nhiệt
: Khi tạng phủ có nhiều tà nhiệt làm hại đến tạng phủ khác, cần phải làm cho mất
tà nhiệt của tạng phủ ấy đi thì gọi là tiết, khác với phép hãn là cho xuất mồ
hôi ra ngoài cơ thể, thường tả huyệt vinh hỏa, hoặc bổ huyệt vinh thủy .
Trục
hàn, tán hàn : Khi cơ thể có hàn tà ở thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu làm cho
đầu lạnh, tay lạnh, chân lạnh, bụng lạnh..cần phải đuổi hàn tà cho mất đi hoặc
đi chỗ khác, gọi là trục hàn, tán hàn, thường tả huyệt vinh thủy hoặc bổ huyệt
vinh hỏa.
Khu
phong ,trục phong : Khi cơ thể bị phong tà do môi trường, thời tiết lục dâm làm
co rút gân cơ, bế tắc kinh mạch khiến sưng đau tê nhức, cần phải đuổi phong tà
đi để cho kinh mạch được thông , gọi là khu phong ,trục phong.
Khử
thấp : Khi cơ thể có thấp tà cần phải đuổi thấp bằng cách cho rịn mồ hôi chứ
không phải cho xuất hãn gọi là khư, khứ, hoặc khử thấp.
Hóa
tích, hóa ứ, hóa đờm : Khi cơ thể có một chỗ nào đó bị tắc nghẽn do huyết tụ,
hoặc đờm tụ làm trở ngại sự tuần hoàn của kinh mạch, cần phải làm cho nó tan
biến đi ra chỗ khác hoặc cho biến mất đi, gọi là hóa.
Tiêu
trệ :Tiêu dùng trong trường hợp người hư nhược có nhiệt tà, không bổ không tả
được phải dùng phép tiêu, làm cho tiêu mòn dần những vật tích tụ như làm tiêu
đàm, tiêu thức ăn, tiêu khí tích, huyết tích, tiêu khối trưng hà ( một loại bướu
tử cung), sán khí, loa lịch (một loại bướu cổ) gây khó thở, nặng bụng, căng tức,
đầy hơi, ngăn nghẹn không được thông, cần phải làm cho mất tình trạng ấy đi gọi
là tiêu. Bệnh có thực có hư, thực thì tả, hư thì bổ.
Chống chỉ định :
Bướu chai mà khí hư, tỳ suy ăn không tiêu, hoặc huyết hư làm cho thịt da chai
sần sùi không được dùng phép tiêu, vì là bệnh thuộc hư cần phải bổ khí, bổ tỳ
huyết.
Giải
biểu hàn, biểu nhiệt : Trong trường hợp bị ngoại cảm, phải đuổi hàn tà, nhiệt tà
ra khỏi cơ thể không cho xâm nhập lấn sâu vào phần lý gọi là giải biểu.
C-Áp
dụng quy luật quân bình :
Xét
bệnh theo đông y hay tây y, khi cơ thể bị bệnh có nghĩa là cơ thể đã mất quân
bình về khí huyết do dư thừa hay thiếu đi một chất nào đó, thí dụ như dư đừờng,
dư cholestérol, dư chất sắt, dư chlor, dư natri, dư calcium, thiếu calcium,
thiếu máu, thiếu khí lực .. Cách chữa của tây y là dùng thuốc để loại bỏ chất dư
thừa hoặc bổ sung chất thiếu. Thử nghiệm máu trước và sau khi điều trị thấy kết
qủa tốt, thay vì ngưng không dùng thuốc nữa thì bệnh lại tái phát, cho nên phải
dùng thuốc suốt đời không dám bỏ.
Khác với tây y, đông y chữa bệnh tức là
điều chỉnh lập lại sự quân bình hòa hợp của tổng thể ngũ hành, khi hết bệnh có
thể bỏ thuốc chứ không nên tiếp tục lạm dụng thuốc sẽ trở thành mất quân bình
gây ra biến chứng thành một bệnh khác, thí dụ như :
1-Nếu
lạm dụng thuốc chữa bệnh cao áp huyết :
Như áp huyết đã hạ bình
thường mà tiếp tục hạ nữa sinh bệnh khác, mất máu não, đi lảo đảo, té ngã sinh
bại liệt chân tay mềm nhũn, thay vì cao áp huyết qúa sẽ đứt gân máu sinh liệt co
cứng tay chân. Những biến chứng của việc lạm dụng thuốc chữa bệnh cao áp huyết
như suy tim do thuốc giãn mạch, suy hô hấp do thuốc giãn mạch và thuốc chẹn dòng
giao cảm, suy thận mãn tính do hạ áp huyết và thuốc lợi tiểu, lách to do thuốc
phong bế giao cảm, đau lưng nhức mỏi, phong thấp khớp, bị bệnh tiểu đường do
thuốc lợi tiểu, gỉảm áp huyết ở thế đứng do thuốc và do ăn uống, biến chứng hạ
áp huyết ở thế đứng và thuốc hạ đường-huyết làm hại mắt, phù gai thị do thuốc
giãn mạch và cuối cùng bị tai biến mạch máu não do dùng thuốc không hợp lý sẽ bị
hôn mê do một trong ba nguyên nhân xuất huyết não, khối máu tụ trong não, hoặc
nhũn não.
2-Nếu
lạm dụng thuốc chữa bệnh tiểu đường :
Dư đường trong máu, đường sẽ
biến thành men khiến cho máu nóng ẩm thấp làm hư hỏng da sinh bệnh hoại tử phải
cưa tay chân, đường nhiều làm tăng nồng độ máu gây tăng áp huyết, suy thận nên
tuyến thượng thận không sản suất insulin để làm giảm lượng đường trong máu, lúc
đó cơ thể cần phải được bổ sung insulin từ ngoài vào để hạ đường, nhưng ngược
lại nếu lạm dụng thuốc hạ đường hoặc kiêng cữ không ăn đường khiến cơ tim không
co bóp sẽ bị suy tim, nhồi máu cơ tim làm chết người.
3-Nếu
lạm dụng thuốc calcium :
Tùy theo loại calcium nào, dạng bột, dạng
nước, dạng sủi bọt, dạng thiên nhiên có trong thực phẩm như mè đen, đậu nành,
rau brocoli, fromage...
Nếu dư calcium khiến áp huyết tăng, thân nhiệt tăng,
sưng tuyến giáp trạng. Riêng thuốc viên bột calcium làm xương khô dòn dễ gẫy và
mòn sụn ở khớp đầu gối do ma xát đi lại nhiều, sống lưng bị cứng, các đĩa đệm bị
khô, thận và bàng quang có sạn do dư thừa chất vôi bột trong thận, trong máu làm
cho máu đặc, mà thật ra xương cũng vẫn xốp do cơ thể không hấp thụ và chuyển
hóa.
Chất xúc tác để chuyển hóa thức ăn thành máu, sinh tinh, hoá tủy để
nuôi xương, còn giúp xương cứng chắc bền dẻo là nhờ chất lân, xương sẽ không bị
xốp và bị dòn dễ gẫy. Chất lân có trong chuối, trong cá, dân tộc Việt nam ta xưa
kia không biết đến viên thuốc calcium là gì, chỉ cần theo thói quen tự nhiên sau
mỗi bữa cơm thì ăn một qủa chuối tráng miệng, trong bữa cơm thường có đậu hũ,
cá, tép rang, cá cơm đều là những chất giúp bổ xương, ngoài ra thức uống có chất
bổ xương là sữa đậu nành. Trong trường hợp chúng ta có ăn những thức ăn kể trên
mà vẫn bị xốp xương thì đông y điều chỉnh lại hệ thống chuyển hóa ở chức năng
tuyến thượng thận chứ không uống calcium để bổ xương, hệ thống chuyển hóa cần
vitamine A,D, chất lân có trong dầu cá, trong rau và nhờ ánh nắng mặt trời giúp
chuyển hóa A,D, chất lân, để cho xương cứng chắc, nếu hệ thống chuyển hóa trong
cơ thể hư hỏng thì dù có uống calcium nó cũng không chuyển hóa được calcium vào
xương cho nên các khớp bị đóng vôi và trong máu có thừa chất vôi, còn xương vẫn
xốp. Như vậy có nghĩa là bổ xương bằng chất vôi loại viên bột không có lợi cho
sức khỏe. Có loại calcium dạng lỏng dùng để chích tan trong máu mà tây y thường
dùng để cấp cứu cho những người bị phản ứng khi chích péniciline bị lạnh rét,
thân nhiệt hạ nhanh gây co cứng toàn thân, lúc đó chúng ta mới biết tính dược
của calcium là làm cho cơ thể phục hồi thân nhiệt nhanh. Chúng ta thử suy nghĩ
và thắc mắc tự hỏi, nếu thực sự cơ thể cần calcium để bổ xương, tại sao không
dùng thuốc chích, có lợi hơn là thuốc viên bột, để tránh phản ứng phụ là mòn
khớp xương, bị sạn thận, hoặc nhiều cặn do ăn mặn trong bệnh cao áp huyết làm dư
thừa Natri tạo ra phản ứng kết tủa vôi đóng thành sạn ở bàng quang. Trong các
quân y viện ở Việt nam các thương binh thường dùng loại calcium chích không phải
để chữa xốp xương, mà để giúp mau lành các chỗ xương bị gẫy, giúp cho tuần hoàn
máu, chống loãng máu, và tăng thân nhiệt, nếu lạm dụng chích nhiều áp huyết sẽ
tăng làm đứt mạch máu não. Trong bệnh lao phổi cũng cần đến calcium để làm ấm
phổi, mau lành vết thương trong phổi chứ không phải để làm cứng xương, nếu nó có
thể làm cứng xương thì nó cũng có thể làm cho cứng các xoang phổi không thở
được. Ở bắc Mỹ chúng ta có loại rau brocoli chứa nhiều calcium thuộc dạng dễ hấp
thụ và chuyển hóa, không bị đóng cặn, không bị tăng thân nhiệt và không bị táo
bón như dùng thuốc calcium viên bột.
4-Nếu
lạm dụng uống nhiều nước một lần :
Đau lưng, cột sống bị chèn ép, đau
sưng đầu gối, ung thư ruột gìa do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một
nguyên nhân do uống nhiều nước thì ít ai biết đến. Thể tích chứa của trực trường
có giới hạn an toàn khoảng 250cc, nếu uống một hơi nửa lít hoặc 1 lít làm cơ co
bóp của nhu động ruột giãn nở quá mức sinh liệt ruột mất tính đàn hồi, sẽ bị sa
xệ chèn ép động mạch háng gây tắc tuần hoàn khí huyết đi xuống chân nuôi chân
đùi gối và kéo căng dây thần kinh cột sống khiến đau lưng, thoái hoá đĩa
đệm.
D-
Áp dụng tính hợp lý :
Cách
dùng thuốc cũng phải hợp lý, có tính logic .Một loại thuốc dùng để chữa bệnh như
nhức đầu, đau bụng, mụn nhọt ghẻ lở.. bác sĩ cho toa mua thuốc uống đến khi khỏi
bệnh thì thôi không cần phải uống nữa, đó là thuốc trúng bệnh, chứ không có vị
bác sĩ nào dặn bệnh nhân cứ tiếp tục uống suốt đời để ngừa bệnh tái phát. Ngược
lại thuốc uống trị cao áp huyết, tiểu đường cứ phải uống suốt đời như vậy thì
thuốc đó không trúng bệnh, không phải để chữa bệnh mà chỉ có tính chất ngừa
bệnh. Tây y chúng ta tin là giỏi không thể chối cãi được sự tiến bộ vượt bực của
ngành y khoa, cũng vì thế mà chúng ta cho rằng tây y đã không chữa được bệnh cao
áp huyết, tiểu đường, phong thấp khớp, loãng xương, cancer là những bệnh nan y,
thì không thể nào có ngành y khoa nào khác chữa được, thế là chúng ta đành bó
tay buông xuôi chờ đợi những rủi ro không tránh khỏi khiến chúng ta phải mang
tật nguyền hoặc bị chết trong oan uổng, trái với tinh thần cầu sống của dân tộc
Á đông ‘’còn nước còn tát’’ .
Trên thế giới mặc dù các quốc gia đều áp dụng
tây y theo tiêu chuẩn quốc tế toàn cầu, nhưng ngoài ra, mỗi quốc gia vẫn còn duy
trì và tồn tại ngành y học truyền thống mà không vứt bỏ, chứng tỏ nó còn hữu
dụng và cần thiết để bổ sung cho tây y, và dần dần được khoa học khám phá ra
những kết qủa đối chứng lâm sàng, cái hay sẽ được tây y hóa thành một môn y khoa
tổng hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nhân loại.
Chúng
ta nói còn nước còn tát ở đây, có nghĩa là Tây y bó tay bảo chúng ta chờ cái
chết đến thì chúng ta còn có đông y, đông y bó tay thì còn khoa chữa bệnh bằng
thức ăn, bằng tập khí công, bằng phương pháp thiền..Theo lý thuyết đông y, bệnh
tật con người đều do xáo trộn khí huyết bởi ba yếu tố tinh-khí-thần dẫn đến bệnh
nặng nhất mà tây y bó tay là cancer. Yếu tố tinh là do lạm dụng cách ăn uống
không thanh đạm mà nhiều béo bổ, lạm dụng nhiều thuốc chữa nhiều bệnh lặt vặt
của nhiều bác sĩ cho cùng một lúc khiến cho cơ thể là một thùng rác chứa nhiều
độc tố, nhiều thuốc tương phản đố kỵ nhau cho ra phản ứng hóa học bất lợi gây
xáo trộn thần kinh và hệ nội tiết khiến hệ miễn nhiễm suy nhược. Yếu tố khí là
hơi thở vận động để chuyển hóa thức ăn thuốc uống thì không chú ý tới vì công ăn
việc làm bận rộn, ăn không có thì giờ nghỉ ngơi, hoặc làm biếng , do đó yếu tố
khí suy giảm không giúp cho cơ thể chuyển hóa. Yếu tố thần thì bất an, lo sợ
bệnh hoạn, nếu bác sĩ cho mình biết có dấu hiệu bị bệnh cancer thì yếu tố tinh
thần suy sụp buông thả khiến các chức năng hoạt động sinh hóa và chuyển hóa của
cơ thể làm việc kém hiệu qủa khiến bệnh trầm trọng hơn.
Theo
đông y, chúng ta có thể chủ động để điều chỉnh lại bộ ba tinh-khí-thần.
Về
yếu tố tinh, bớt ăn uống nhiều bổ béo, ăn uống có điều độ, bỏ bớt thuốc không
cần thiết, uống càng ít thuốc và càng cách xa giờ để thuốc có thời giờ chuyển
hóa mới uống đến thuốc khác, mà không nên uống cùng lúc chúng sẽ tạo phản ứng
xấu trong bao tử trong thời gian chờ đợi chuyển hóa.
Về yếu tố khí, nên
tham dự các lớp khí công, hoặc bơi lội, giúp cho cơ thể nhiều khí lực để chuyển
hóa thức ăn thuốc uống thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể, và giúp đào thải cặn bã
ra khỏi cơ thể được nhanh và đều đặn mỗi ngày.
Về yếu tố thần, tham dự các
khóa thiền để tĩnh tâm, dưỡng tâm an thần, khí công thiền để khai thông huyệt
đạo giúp khí huyết lưu thông khắp cơ thể chống được đau đớn do khí huyết bị ứ
tắc.
Về
cách chữa bệnh của đông y, thầy thuốc sẽ giúp cho bệnh nhân ăn không được sẽ ăn
được, ngủ không được sẽ giúp cho ngủ được, thở không được vì khí nghịch, đờm
chặn ở phế khí quản sẽ có thuốc giúp cho khai thông tán đờm làm cho thở được dễ
hơn, đầy bụng ăn không tiêu sẽ giúp cho tiêu hóa tốt, tiểu bí không ra sẽ giúp
cho tiểu được, đại tiện không thông, bị táo bón sẽ giúp cho xả ra nhiều, đau đớn
sẽ làm cho hết đau... Có nghĩa là đông y chữa bệnh bằng cách điều chỉnh dần bộ
ba tinh-khí-thần cho đến lúc nào hệ thống nội tiết và hệ miễn nhiễm phòng chống
bệnh tự chúng có thể hoạt động mạnh trở lại như bình thường thì con người hết
bệnh tật chứ không chú trọng đến tiêu diệt tế bào cancer.
Đối với tây y
chủ trương bỏ đói không cho tế bào cancer phát triển, nhưng chúng ta thử nghĩ,
thí dụ nếu cơ thể có 100 tế bào trong đó có 30 tế bào cancer. Bỏ đói cơ thể cho
30 tế bào cancer bị đói đến chết thì 70 tế bào khỏe cũng bị đói đến chết khiến
cơ thể bệnh nhân suy nhược, mệt mỏi rã rời, trong khi đó cơ thể phải bị hành hạ
bởi hóa chất trị liệu, xạ trị, cuối cùng tế bào cancer chưa chết, chỉ có bệnh
nhân yếu sức, đau đớn cho đến chết ôm theo tế bào cancer chết theo như một cảm
tử quân bất đắc dĩ .Tại sao chúng ta không nghĩ ngược lại, giúp cho các tế bào
mạnh lên thì thế trận giữa địch và ta vẫn giữ ở tỷ lệ 30%, đông y dùng hà thủ ô
trong đó có thành phần chính là chất lécithin có khả năng liên kết các màng tế
bào không cho phát triển vô tổ chức. Cơ thể muốn có các tế bào khỏe để trở thành
đoàn quân mạnh tự tiêu diệt tế bào cancer thì yếu tố tinh thần phải vững mạnh,
có niềm tin tất thắng, có nghĩa là tinh thần phải vận động tâm lý chiến thì
chúng mới không bỏ hàng ngũ theo địch, lúc đó thực sự tế bào cancer bị cô lập và
tự hủy hoại và biến mất.
Ngoài
cách chữa bệnh cancer tây y còn đang nghiên cứu, nhưng còn đối với các bệnh nan
y khác thì vẫn có sự lạm dụng thuốc vô lý vì cách dùng thuốc với mục đích là
chữa cho khỏi bệnh chứ không phải chữa chưa khỏi bệnh này lại bị biến chứng sang
bệnh khác khiến cho bệnh từ nhẹ đến nặng. Thuốc không phải dở, cũng không phải
bác sĩ khám dở, mà do một bệnh có liên quan đến nhiều tạng phủ, phải tìm gốc
bệnh để chữa gốc, chứ không phải chữa riêng từng khoa, như bác sĩ chuyên khoa
tim mạch cho thuốc tim mạch, chuyên khoa bao tử và đường ruột cho thuốc trị bao
tử và ruột, chuyên khoa thần kinh cho thuốc an thần, chuyên khoa phổi cho thuốc
trị phổi, chuyên khoa gan cho thuốc trị gan, còn những thứ thuốc khác như thuốc
đau nhức phong thấp, thuốc loãng máu, thuốc chống loét bao tử, thuốc chống mục
xương khi phải nằm lâu.. Chúng ta cứ tưởng tượng mỗi loại bệnh chỉ cần uống 3
viên một ngày, nếu chúng ta có tám hay mười loại bệnh, các loại thuốc này vào
bao tử cùng một lúc, nó có được phân phối riêng rẽ cho từng loại bệnh mà bác sĩ
mong muốn hay không, hay cơ thể chúng ta là thùng rác chứa độc tố, chúng lại tạo
ra một hợp chất biến thành xung khắc hại cơ thể thêm. Nếu chúng ta thử nghiệm
đem những thuốc này cùng một lượt hòa chung với nhau rồi cho chó uống thử xem
chó có chết hay không ? Ở xứ này không ai dám thử, nếu chó có chết thì cũng huề
cả làng. Tuy nhiên con người có sức đề kháng mạnh, cứ uống thẳng tay cho hết
thời gian trị liệu, một là sống hai là chết. Khi bệnh chính khỏi rồi sau đó lại
tiếp tục chữa đến bệnh khác do biến chứng của thuốc nhất là bệnh gan nhiễm độc,
bệnh tâm thần, si khờ, mất tri giác, chân tay tê cứng liệt, đi đứng ăn uống khó
khăn, nằm một chỗ lại phải uống thuốc suốt đời cho đến chết chỉ là thời gian sớm
hay muộn mà thôi.
Một số không ít những gia đình ở Việt nam đi nước ngoài
theo diện đoàn tụ hay H.O. đã từng gặp cảnh vĩnh biệt những người thân trong
cảnh éo le, nghẹn ngào, khi phải chết bất đắc kỳ tử trong giai đoạn uống thuốc
trị lao trước khi được Cao ủy Liên hiệp quốc cho phép xuất cảnh. Tôi có một
người thân, tuổi khoảng 70, ông bị lao phổi ở tuổi 40 đã chữa khỏi, người rất
khỏe mạnh, trước năm 1975 là người thành công trong sự nghiệp, và đang hưởng thú
điền viên, ngày ngày đạp xe đạp dạo chơi ở các chợ bán cây cảnh và có thú vui
nuôi chim. Khi ông được đi Mỹ diện H.O. theo con, phải qua kỳ khám sức khỏe,
phổi ông còn vết sẹo cũ nên phải uống thuốc lao, ông uống được 3 tháng, khi chụp
phổi lại, vết sẹo không biến đổi, họ nghĩ chữa lao là sai lầm, cho ông đi bệnh
viện ung thư để thử xem có phải ung thư không, thử tới thử lui mãi ông bị suy
nhược, khó thở, mất ngủ, ăn uống không được, cho đến ngày lên danh sách chuyến
bay thì ông từ gĩa cõi đời một cách oan uổng. Một trường hợp khác cũng đi đoàn
tụ, người chồng phải uống thuốc lao chỉ vì hồi nhỏ bị té ngã từ trên cây cao
xuống đất, phổi có vết sẹo, anh uống thuốc được khoảng 5 tháng thì bị chai gan,
biến chứng thành bệnh cao áp huyết, sau bị tai biến mạch máu não rồi lìa đời.
Vậy tục ngữ còn nước còn tát, cũng còn phải tùy tát theo kiểu nào, để không bị
biến chứng khác có hại cho cơ thể sau khi khỏi bệnh.


17:37
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét