Theo
đông y, trong cơ thể con người mỗi cơ quan tạng phủ đều có sự biến đổi từ sinh
hóa đến chuyển hóa để bảo vệ duy trì và phát triển sự sống cho con người theo
một quy luật sinh, trưởng , hóa, thâu, tàng, rất chặt chẽ gọi là sự khí hóa của
tổng thể ngũ hành được chỉ huy bởi hệ thần kinh trung ương, mỗi cơ
quan tạng phủ có chức năng riêng được tượng trưng là một hành, như chức năng của
gan thuộc hành mộc chủ sinh, chức năng của tim thuộc hành hỏa chủ trưởng, chức
năng của tỳ ( lá lách ) thuộc hành thổ chủ hóa, chức năng của phổi thuộc hành
kim chủ thâu, chức năng của thận thuộc thủy chủ tàng. Giải thích theo khoa học
thì sự khí hóa của ngũ tạng khí lo phần việc của hệ hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa,
bài tiết, sinh dục, hệ nộI tiết ( tuyến hạch ), hệ miễn nhiễm, hệ bạch cầu..
Sự
khí hóa theo luật âm-dương ngũ hành trong cơ thể rất đa dạng phức tạp nhưng chặt
chẽ, vừa tự động vừa bán tự động do sự điều chỉnh kích thích từ bên ngoài vào sự
khí hoá như điều kiện môi trường, ăn uống, thuốc men, và châm cứu trên 12 đường
kinh mạch và 8 kỳ kinh..mà đông y đã tìm ra cách đây khoảng năm ngàn năm căn cứ
vào bộ sách Hoàng đế nộI kinh được lưu truyền trước công nguyên 2800 năm, nếu
biết bổ sung phù hợp vớI yêu cầu khí hóa của tạng phủ thì sự khí hóa mau được
lập lại quân bình, nếu sự bổ sung không phù hợp thích nghi sẽ phá vỡ sự quân
bình sự khí hoá của tổng thể làm cơ cơ thể bị bệnh.
Theo
Hoàng đế nộI kinh giải thích chức năng tạng phủ theo quy luật khí hóa gồm có
:
A-
Sự khí hóa thủy-hỏa ( âm-dương ) :
Thủy
là chất nước bổ có trong 5 tạng, gan, tim, tỳ ( lá lách),phổI, thận, tự sinh ra
làm mát mẻ thấm nhuần vào tạng phủ kinh mạch. Hoả là nhiệt độ gửI trong tim và
trong chất nước ấm của thận do hô hấp của phổi đem dương khí vào tim theo đường
hệ mạch xuống thận làm cho có khí hoả, để làm ấm các tạng phủ và hệ thống mạch
máu giúp cho sự tuần hoàn lên xuống được liên tục. Hỏa khí được tự động điều
chỉnh vớI nhiệt độ trung bình làm căn nguyên sinh ra dương khí và hộ vệ da lông
chống nhiệt độ lạnh bên ngoài do thờI tiết, hoặc do ăn uống chất lạnh xâm nhập
vào cơ thể.
NgườI
hấp thụ nhiệt khí của trờI sinh hỏa, trong con ngườI hỏa thuộc tim, tim sinh
huyết có sắc đỏ. NgườI hấp thụ khí lạnh của đất, khí lạnh sinh ra nước, gốc của
nước ở biển có vị mặn. Trong con ngườI thủy thuộc thận hàm chức vị mặn nên tàng
giữ tinh khí.
Thủy-hỏa
là khí vô hình của tim và thận. Tâm thận tương giao sinh khí hóa huyết hòa vớI
phế khí thành vệ khí để bảo vệ cơ thể, hòa vớI tỳ vị do sự ăn uống hàng ngày
sinh dưỡng trấp qua ruột non theo mạch về tim biến ra máu rồi theo mạch máu đi
nuôi cơ thể bổ sung vào kinh mạch tạng phủ giúp cơ thể khỏe mạnh chống bệnh
tật.
Ngoài
thiên nhiên, nếu thủy không có hỏa tương giao thì nước thành băng giá không sinh
dương khí sẽ không có sự sống, ngược lại hỏa không có thủy sẽ nóng cháy thiêu
đốt cây cỏ tàn phá môi trường sống. Vì thế trong con ngườI và thiên nhiên đều có
sự khí hóa của thủy-hỏa.
B-Sự
khí hóa của vinh-vệ :
Khí
và huyết là tinh ba của thủy cốc do tỳ vị sinh hóa thành dưỡng trấp lọc qua ruột
non đưa về tim hóa huyết lưu hành trong hệ mạch tâm bào và tam tiêu để nuôi tạng
phủ da thịt gọI là vinh huyết.
Phần
thủy tinh khiết của thức ăn sau khi tiêu hóa cũng đi theo hệ mạch vào khí quản
để phân phối ra da lông và ngoài kinh mạch gọI là vệ khí.
Khi
ta uống nước vào bao tử, sẽ thấm rút ra màng lướI tam tiêu sang thận thấm vào
Bàng quang, nhờ khí nóng của Mệnh môn là điểm liên lạc giữa thận thủy và tâm hỏa
giao nhau ở hệ thống tam tiêu, nếu có hỏa khí ở đó nung nấu thủy ở hạ tiêu hóa
thành hơi đi qua huyệt Khí hải gọI là nguyên khí thông lên cách mạc vào phổI đưa
ra mũi làm nước mũi, đưa lên miệng làm thành nước miếng, phần khác thông ra da
lông làm mồ hôi. Đó là sự khí hóa chung của Thận, Bàng quang và Tam tiêu.
Phần
dưỡng trấp đặc hơi đục sau khi tiêu hóa thấm qua ruột non thấm rút vào vi ti
huyết quản vào gan, đưa lên tim hóa huyết chạy trong mạch bồi bổ tạng phủ da
thịt. Sự sinh huyết hành khí là do sự khí hóa của tim,gan.
Vinh
huyết và Vệ khí lưu thông được dễ dàng là nhờ phế khí thu dưỡng khí giúp thúc
đẩu sự tuần hoàn. Tỳ vị chuyển hóa thực phẩm sinh dưỡng trấp hóa huyết bồi bổ da
thịt kinh mạch. Phế làm chủ khí, tim làm chủ huyết. Khí lên thì huyết lên, khí
xuống thì huyết xuống gọI là Vinh vệ tuần hoàn.
Tuần
hoàn của vinh huyết bắt đầu từ phổI nhờ khí hô hấp mà truyền khắp cơ thể không
ngừng suốt 24 giờ qua đủ 12 đường kinh mớI trở về phổi.
Tuần
hoàn của vệ khí thì 12 giờ ban ngày đi trong kinh dương từ Tam tiêu ra da thịt,
lông, tay, chân mà không vào tạng phủ. 12 giờ ban đêm thì vệ khí mớI đi vào
trong qua các kinh âm khởI từ tim đến thận, phổI, tỳ, gan, đến hết 24 giờ thì Vệ
khí hộI lại vớI vinh khí tại phổi.
Vệ
khí đi vòng các kinh mạch theo 12 chính kinh 24 giờ là một vòng, chiều dài đường
kinh được tính bằng hơi thở mà các thầy thuốc đông y dùng để bắt mạch tìm bệnh
cho bệnh nhân. Con ngườI hít vào và thở ra một hơi chiều dài mạch đi được 6 thốn
( 6 lóng tay của ngườI thở, nên 6 lóng tay của ngườI lớn và của trẻ em có độ dài
khác nhau ). Như vậy 24 giờ thở được 13500 hơi x 6 thốn = 81000 thốn.
C-Sự
khí hóa theo lục kinh lục khí :
1- Sự khí hóa của kinh
Thiếu âm, lấy nhiệt khí làm chủ :
Nhiệt
khí là phản ảnh của ánh sáng mặt trờI rọI xuống mặt đất và nước. Hơi nước và khí
nóng bốc lên thành nhiệt khí tiềm tàng trong đất và nước, cầm giữ nhiệt độ trung
bình khiến cho phong khí ôn hòa, hàn khí sinh dương khí, thấp khí chuyển hóa,
táo khí thêm cứng rắn kim chất, chế hóa ngũ hành giảm cái thừa, bù cái thiếu mà
vạn vật được quân bình.
Trong
cơ thể Tâm liên hệ Tiểu trường, Thận liên hệ Bàng quang. Nhiệt khí là khí ấm
nóng trong tim và máu nhờ ruột non dẫn xuống bàng quang giúp thận hệ hóa dương
khí ra ngoài hộ vệ bì phu, bên trong sinh tân dịch nuôi dưỡng tạng phủ, hành
huyết, cố tinh, liễm khí.
2- Sự khí hoá của kinh
Thái âm, lấy thấp khí làm chủ :
Thấp
khí là khí vừa mát vừa ráo do thủy hỏa kết hợp, có công năng duy trì vạn vật,
còn khi nào vạn vật hư hoại nó làm mục rụi hóa thành đất.
Trong
cơ thể Thấp khí thuộc tỳ vị . Khi thức ăn vào bao tử, nhờ phổI lấy dương khí
giao xuống tim truyền xuống bao tử. Hỏa khí nơi tim giúp táo khí đắc lực để tiêu
hóa thức ăn và thấm rút dưỡng trấp, cặn bã đưa xuống ruột già. Thấp khí của tỳ
truyền sang bao tử làm mục thức ăn được ruột non rút dưỡng trấp đi nuôi cơ thể,
đẩy cặn bã xuống ruột già được táo khí và thấp khí đồng hóa thành phân, không
qúa thấp sinh bệnh tiêu chảy, không qúa táo sinh bệnh bón.
3-Sự khí hóa của kinh
Quyết âm, lấy phong khí làm chủ :
Phong
khí do thủy hỏa, ánh nắng mặt trờI và nước của đất giao nhau tạo thành hơi làm
ra gió như khí hậu mùa xuân ôn hòa, vạn vật được phát sinh.
Trong
cơ thể có kinh tâm bào liên hệ vớI Tam tiêu, Gan liên hệ vớI Mật. Tâm bào và Gan
thuộc phong. Tam tiêu và Mật thuộc hỏa. Tam tiêu đưa hỏa của tim xuống hạ tiêu,
đưa thủy của hạ tiêu lên giao nhau ở gan mật tạo ra phong khí điều hòa các kinh
mạch làm cho tuần hoàn khí huyết nuôi khắp cùng tạng phủ cơ nhục.
4-Sự
khí hóa của kinh Thiếu dương, lấy hỏa khí làm chủ ;
Hỏa
khí do khí nóng của mặt trờI soi rọI lúc ban mai làm ấm áp điều hòa vạn vật.
Trong
cơ thể, hỏa khí giao vớI thủy sinh dương khí, phong theo hỏa biến hóa phát động
không ngừng. Thấp khí nhờ hỏa khí làm tiêu hóa không đình trệ, táo khí nhờ hỏa
khí nên kim chất cứng rắn, ngũ hành nhờ hỏa khí phát dương nên sự khí hóa của
ngũ tạng được liên tục cho âm khí thăng dương khí giáng.
Kinh
thiếu dương là Tam tiêu và Mật, mà Tam tiêu liên hệ Tâm bào, Mật liên hệ gan.
Tam tiêu đem hỏa của tâm bào hợp vớI phong là gan mật thuộc mộc phát ra dương
khí lưu thông khí huyết khắp cơ thể.
5-Sự khí hóa của kinh
thái dương, lấy hàn khí làm chủ :
Hàn
khí là hơi nước mát mẻ tràn khắp vũ trụ hợp vớI hơi nóng mặt trờI nhẹ nhàng cũng
tạo cho hàn khí tỏa ra, bay lên, cho nên cũng gọI là dương khí. Theo luật âm
dương, trong âm có dương, trong dương có âm, nên cực âm thì bắt đầu phát sinh
mầm dương, cực dương thì bắt đầu phát sinh mầm âm. Cho nên nước ở qủa địa cầu
không có một tí hỏa của mặt trờI giao xuống thì đóng thành băng đâu còn sự khí
hóa của luật âm dương.
Trong
cơ thể Kinh Thái dương là Tiểu trường và Bàng quang. Tiểu trường liên hệ vớI
tâm, Bàng quang liên hệ vớI thận. Tiểu trường có hỏa khí khi thu rút dưỡng trấp
đưa qua mạch máu về tim lại giao xuống thận làm ấm thận thủy sinh dương khí đi
thông khắp màng lướI tam tiêu để nuôi dưỡng tạng phủ kinh mạch, cơ nhục nẩy nở,
thông ra da lông làm vệ khí.
6-Sự khí hóa của kinh
dương minh, lấy táo khí làm chủ :
Táo
khí là khí khô ráo thiếu sự giao hòa âm dương ứng hợp vớI mùa thu, cây cỏ khô
héo, lá rơi rụng, nước khô cạn.
Trong
cơ thể táo khí ở ruột già .Đại trường liên quan đến phổi. Bao tử liên quan đến
tỳ là hai khí táo thấp giao nhau làm tiêu hóa thức ăn và thấm rút nước ẩm ướt
nơi ruột già làm thành phân.
D-Chức năng sinh hóa
chuyển hóa riêng của mỗI tạng phủ :
1-Sự khí hóa của gan (
mộc âm ) :
Gan
có động mạch, tĩnh mạch, gan sinh ra nước mật, có ống thu nước mật chứa vào túi
mật, phần khác đem xuống ruột non để giúp sự tiêu hóa và lọc độc tố. Gan tích
trữ và điều hòa chất đường trong máu và bổ sung chất đường cho máu. Gan tạo ra
chất gân, móng tay và nước mắt. Đường kinh can thông lên bên trong đầu xuất ra
nơi hai con mắt. Gan chứa huyết do tâm biến dưỡng trấp thành huyết lưu thông
khắp kinh mạch từ Mạch Xung ( Vaisseau désobtructeur ), Mạch Nhâm ( Vaisseau
Conception), vào Tâm bào dẫn huyết phân chia khắp cùng các kinh mạch nuôi tạng
phủ gân da thịt.
Gan
chứa hồn, là tinh túy của khí huyết, ban ngày hồn ra nơi mắt để thấy hiểu sự
vật, ban đêm hồn về gan thì ngườI được ngủ yên. Gan giữ sự can đảm trầm tĩnh,
bạo dạn, mưu chước. DướI gan có mật thuộc mộc dương dễ phát hỏa làm dương khí
phát động dễ sinh nổI giận, mất ngủ.
2-Sự khí hóa của mật (
mộc dương ) :
Nước
mật do gan lọc ra được chứa vào một túi gọI là túi mật. Huyết nuôi tế bào gan
bằng chất bổ của huyết, còn lại chất bã gan lọc lại thành huyết xấu đi theo mật
vào đường ruột bài tiết theo cặn bã thức ăn ra ngoài.
Hỏa
khí từ Mệnh môn tam tiêu vào gan truyền sang mật phát hỏa làm ấm ngũ tạng giúp
cho sự tiêu hóa thức ăn của tỳ vị được nhanh sinh dưỡng trấp hóa huyết. Mộc âm
là gan, mộc dương là mật liên hiệp nhau giúp trung tiêu sinh dưỡng trấp sau khi
con ngườI nhai thức ăn nuốt vào bao tử.
3-Sự khí hóa của tâm (
hỏa âm ) :
Tâm
thống lãnh các kinh mạch. Trong tim có 4 ngăn toàn là chất thịt bền dẻo, chắc,
mầu đỏ, có sức co bóp tự động để vận chuyển huyết đi khắp cơ thể qua ba loại
mạch là động mạch, tĩnh mạch, và vi ti huyết quản thuộc hệ tâm bào.
Tâm
tàng thần, thông khiếu lên lưỡI, tâm làm chủ tể các tạng phủ, sự tri giác do
thần ở nơi tâm, vì tâm thận giao nhau sinh tinh tủy làm thành óc và các dây thần
kinh, cho nên sự tri giác đều có liên quan đến tâm và óc để biết suy tư, quan
sát, phân biệt tinh thô, cho nên khi định tâm suy tư thì mớI sáng suốt.
Tâm
sinh huyết, thận hóa khí, khí huyết hợp hóa sinh tinh hóa thần. Tinh khí thần
đều do thủy hỏa, khí huyết sinh ra. Tâm sinh huyết là do dưỡng trấp của tỳ vị
sinh hóa được khí của phổI chuyển hóa mà thành.
4-Sự khí hóa của tiểu
trường ( hỏa dương ):
Ruột
non là phần dài nhất của bộ tiêu hóa, dài 8 mét, trên nối vớI bao tử, dướI nối
vớí ruột già, có màng bao ruột liên kết vớI các tạng phủ khác. Thức ăn vào bao
tử một lúc lâu, trộn vớI chất chua trong bao tử sau vài giờ bao tử ép xuống ruột
non, thấm trộn vớí chất chua trong ruột , nước mật và chất của tỳ cùng biến hóa
thành dưỡng trấp. Dưỡng trấp lỏng và trong được đưa lên làm thành nước bọt, nước
mũi, mồ hôi, chất đặc sền sệt hơi đục như sữa thấm vào vi ti huyết quản để làm
thành máu nuôi cơ thể, chất cặn bã đẩy xuống ruột già ép rút khô tống ra ngoài
thành phân.
Tâm
và tiểu trường cách xa mà cùng là hỏa khí được truyền qua màng mỡ bao tim, gan,
tâm bào. Nếu hỏa từ tâm không đưa xuống tiểu trường thì thức ăn không hóa thành
dưỡng trấp được.
5-Sự khí hóa của tỳ(
thổ âm ):
Tỳ
chủ phần lưu thông phân phối, dẫn huyết , khí và các chất lỏng đi khắp cơ thể.
Tỳ tàng ý, sinh nước miếng và sản xuất ra các hạch chất. Khiếu của tỳ là môi. Tỳ
chứa một chất nước ngọt đưa vào miệng trên của ruột non để tiêu hóa thức ăn. Tỳ
thuộc thấp khí là khí vừa nóng vừa ẩm ướt do thận thủy sinh ra khí dương đem lên
màng trung tiêu, tim phổI hóa dưỡng trấp thành huyết đem hơi nóng xuống trung
tiêu. Khí và huyết của tâm thận giao nhau tại trung tiêu hóa hợp vớI tỳ thành tỳ
trấp sản xuất ra các loại chất xúc tác cho các tuyến hạch.
Dưỡng
trấp phân làm hai loại nhẹ và nặng. Loại nhẹ là phần nước trong tinh khiết từ
nước uống hay thức ăn được chất xúc tác của tỳ cho thấm qua ruột non hoá thành
vệ khí để dẫn đẩy huyết lưu thông khắp kinh mạch tạng phủ ra đến ngoài da lông
để bảo vệ.
phần
bên ngoài của cơ thể. Dưỡng trấp nặng là một chất lỏng sệt như sữa được chất xúc
tác của tỳ thấm qua thành ruột non lên màng mỡ trung tiêu gặp chất xúc tác khác
của tỳ phân phối chất bổ, chất đắng về tim nuôi tạng tim, chất ngọt về tỳ nuôi
tạng tỳ, chất chua về gan nuôi tạng gan, chất cay về phổI nuôi tạng phế, chất
mặn về thận nuôi tạng thận. Dưỡng trấp còn lại gặp chất xúc tác khác làm cho dễ
thấm rút qua vi ti huyết quản về tim phổI biến thành máu đỏ nuôi da thịt. Nếu
khả năng sinh hóa và chuyển hóa của tỳ yếu dưỡng trấp không đủ chất xúc tác để
đưa lên tim phổI biến thành máu đỏ sẽ biến thành chất đờm. Cặn bã của ruột non
được đẩy xuống ruột già gặp chất xúc tác của tỳ giúp thấm rút vào Bàng quang làm
thành nước tiểu .
6-Sự khí hóa của bao
tử ( thổ dương ) :
Bao
tử là một túi tiêu hóa chứa thức ăn, đầu trên thông lên miệng, đầu dướI thông
vớI ruột non, hai đầu là cửa đóng mở. Bao tử có chức năng co bóp nghiền nát thức
ăn và có chứa nhiều hạch sinh ra chất xúc tác thấm vào thức ăn làm cho mau tiêu
hóa. Khi chúng ta nhai thức ăn đem vào bao tử, một lúc sau bao tử tiết ra chất
xúc tác và co bóp nghiền thành chất nhão, sau đó bao tử lại tiết ra một chất làm
trơn thành vách bao tử rồi co bóp đẩy chất nhão xuống ruột non để hóa ra dưỡng
trấp do sự hợp tác của hạch tỳ, hạch gan, hạch ruột. Theo lục kinh lục khí, bao
tử và đại trường thuộc táo khí, tỳ vị thuộc thấp khí. Táo khí và thấp khí dung
hòa sinh ra hai phần dưỡng trấp, phần nhẹ thành vOE khí, phân nặng là vinh
khí.
7-Sự khí hóa của phổI
( kim âm ) :
PhổI
có hai lá do nhiều tế bào kết thành thể xốp có nhiều vi ti quản, cuối vi ti quản
là túi con chứa khí thở ra hít vào của phổI, trong vách mỏng của mỗI túi con
chứa máu đen chạy ngang dọc để bốc thán khí CO2, và cùng lúc thu dưỡng khí O2
làm cho máu đen oxyde sắt nhị biến thành máu đỏ oxyde sắt tam. PhổI có hai lớp
màng bao, màng bao trong bao lá phổI, màng bao ngoài dính vào lồng ngực, giữa
hai màng là nước. Không khí vào cơ thể qua lỗ mũi, miệng và các lỗ chân lông,
cho nên phổI chủ quản da lông, khai khiếu ở mũi làm ra nước mũi.
Theo
lục kinh lục khí, PhổI tỳ thuộc thấp khí, theo ngũ hành PhổI, ruột thuộc táo
khí, hai khí táo thấp hóa hợp thành khí trọc thán khí. PhổI có nhiệm vụ tống
thán khí ra ngoài, thu dưỡng khí vào trong vừa để hóa máu đen thành máu đỏ, vừa
biến dưỡng trấp thành máu đỏ về tim, vừa dẫn khí đẩy chất nước trong bao tử và
ruột già ra màng lướI tam tiêu để rút xuống bàng quang làm thành nước tiểu thông
ra ngoài. Phế khí có nhiệm vụ làm chủ vệ khí, thống lãnh tất cả các khí và điều
hành khí ra vào ở huyệt Khí hải và thận và giúp cho gan khí ôn hòa, tỳ khí vững
mạnh, tâm khí quân bình không qúa nóng phát hỏa làm tiêu hao huyết và các dịch
chất trong cơ thể, hoặc tâm hỏa kém nhiệt không đủ giao hỏa xuống thận thủy để
tạo sự khí hóa âm dương cho cơ thể. Nhờ phế khí tâm được yên, tâm tàng thần,
thần yên giống như một ông vua được sáng suốt tỉnh táo mớI chỉ huy kiểm soát
được mọI hoạt động của quốc gia càng ngày càng thịnh vượng. Khí của các tạng đều
do phế khí điều hành một cách thích hợp, không âm quá sinh hàn, không dương quá
sinh nhiOEt, lúc nào cũng giữ dáng vẻ bên ngoài của cơ thể được hoạt bát linh
động, về mặt hình thức đông y gọI là phách, về nộI dung, khôn lanh biết suy xét
chỉ huy đông y gọI là thần, cho nên đông y nói tâm tàng thần, phế tàng
phách.
8-Sự khí hóa của ruột
già ( kim dương ) :
Đại
trường to hơn tiểu trường, dài dộ 2m, uốn về ba chiều, gọI là kết tràng lên phía
bên phải, kết tràng ngang ở giữa, và trực tràng ở phía bên trái. Tất cả khúc
ruột già này chia thành từng đoạn như bướu, trừ đoạn cuối thông ra hậu môn là
nhẵn.
Phế
và đại trường theo ngũ hành thuộc táo kim. Phế là hô hấp thu dương khí, thải
thán khí. Đại trường thu nạp cặn bã có một chất xúc tác trong ruột giúp phần
lỏng thấm ra vách thành ruột xuống bàng quang làm thành nước tiểu, phần đặc được
ruột điều hòa thành phân không khô qúa, không nhão qúa, lỏng qúa, không đẩy ra
nhanh qúa khi chưa thành phân,không giữ lâu trong ruột để biến thành độc tố hại
cơ thể, đó là nhiệm vụ điều hòa và truyền tống của đại trường, nếu đại trường
thiếu chất xúc tác sẽ không chỉ huy được việc đại tiện.
9-Sự khí hóa của thận
( thủy âm ) :
Thận
có hai qủa nằm về hạ tiêu, bám vào xương sống ở hai bên có dây liên kết gọI là
thận hệ, là nơi giữ gìn mạng sống của con ngườI cho nên gọI là Mệnh môn, tất cả
tinh ba của ngũ tạng hộI tụ lại Mệnh môn để làm ra xương tủy.
Nhiệm
vụ của thận là lọc chất độc có trong máu đem xuống bàng quang theo đường tiểu ra
ngoài. Chất bổ của ngũ tạng tạo ra tinh khí chứa trong bộ sinh dục ngoài là
ngoại thận chế biến huyết thành tinh. Chỗ lõm của mỗI qủa thận có động mạch dẫn
huyết nơi tâm vào thận, có tĩnh mạch đem huyết ở thận lên tim, có ống thu nước
tiểu vào bàng quang bên trong có chứa hạch lọc nước. Thận khai khiếu ở óc và
tai, thận dịch lên lưỡI làm ra nước miếng. Thận khí theo Đốc mạch lên đầu làm ra
tóc, thận tàng ý chí. Thận thuộc thủy biến thành thận khí theo hệ thống tam tiêu
lên tâm, tâm thuộc hỏa sinh huyết. Tâm và thận là tạng âm giao nhau nơi màng
lướI tam tiêu thuộc hỏa. Khi hô hấp dương khí từ mũi qua phế xuống tâm qua cách
mạch thông qua Đốc mạch giao đến tiểu trường vào thận hệ là Mệnh môn hỏa nung
nấu chất nước trong bàng quang hóa thành hơi theo tam tiêu ra bộ sinh dục, theo
Mạch Xung và Mạch Nhâm lên Cách mạc vào phổI ra mũi làm thành một hơi thở ra.
Mặt khác phần khí ở Mệnh môn theo tam tiêu làm vệ khí bên trong bảo vệ tạng phủ,
bên ngoài bảo vệ da lông thông lỗ chân lông ra mồ hôi. Thận tàng tinh và chủ 5
loại dịch chất của 5 tạng, tương đương vớI các chất trong các tuyến hạch theo
tây y.
Theo
đông y, quả thận bên trái giữ chức năng của qủa thận. Qủa thận bên phải chính là
chức năng của Mệnh môn, đàn ông thì tàng tinh, đàn bà chứa noãn. Còn động lực
phát sinh ra dương khí ở giữa hai qủa thận là thận hệ giao vớI tam tiêu ở Mệnh
môn là sự khí hóa vô hình làm căn nguyên của Nguyên khí ( énergie génétique )
làm cho con ngườI được thông minh trí tuệ, thân thể cường tráng, sinh dương khí
hóa thần, tàng tinh, giữ gìn tính mạng con ngườI được lâu dài hay ngắn ngủi đều
lệ thuộc vào nó.
10-Sự khí hóa của bàng
quang ( thủy dương ) :
Bàng
quang chứa nước bẩn có trong huyết do thận gạn lọc ra, nếu nước tiểu trong bàng
quang ở lâu chưa ra sẽ đóng cặn dướI đáy thành sạn.
Theo
lục kinh lục khí, Bàng quang làm chủ hàn khí là hơi nước xuất ra từ bàng quang,
nhờ khí nóng trên tâm giao xuống tiểu trường qua màng mỡ tam tiêu đến thận hệ
nấu thành hơi nước, hàn khí trở thành dương khí đi lên hợp vớI phế khí thành vệ
khí bảo vệ bên ngoài cơ thể.
Theo
ngũ hành, thận và bàng quang là thủy chứa nước biến thành khí theo hệ thống tam
tiêu đưa qua cách mạc vào tim làm tươi nhuận qủa tim, lên phổI làm thành chất
nước của phổI, thông ra da làm thành mồ hôi và làm cho da tươi mát, vào trung
tiêu tỳ sản xuất hạch chất cho chất nước xúc tác của bao tử, thông ra kinh mạch
do gan chuyển tiếp làm thành huyết dịch như bạch cầu, hồng cầu.., như vậy sự khí
hóa của bàng quang sinh ra ngũ dịch vừa làm vinh khí vừa làm vệ khí bảo vệ và
nuôi dưỡng bên trong bên ngoài cơ thể, nơi miệng lưỡI đều có chất nước làm mũi
đủ độ ẩm cần thiết, làm môi tươi nhuận, cổ họng không khô khát..
11-Sự khí hóa của tam
tiêu ( hỏa dương ) :
Tam
tiêu là con đường vận chuyển khí và huyết lưu thông khắp cơ thể bên ngoài và bên
trong chỗ nào cũng có khí và huyết.
Thượng
tiêu chủ động thu nạp thức ăn vào bao tử không cho ngược trở ra.
Trung
tiêu chủ việc nung nấu biến hóa thức ăn và thức uống.
Hạ
tiêu chủ việc phân loại chất bổ dưỡng của khí huyết đưa lên. Chất cặn bã của khí
huyết đem xuống truyến tống ra ngoài không để lưu lại lâu trong cơ thể.
Nguồn
gốc của tam tiêu sinh nơi giữa hai qủa thận gọI là thận hệ. Thận hệ sinh ra mỡ
sa, thông lên cách mạc bọc tim phổI chạy lên yết hầu và các màng mỡ từ cách mạc
ra tay lên đầu làm thượng tiêu. Màng mỡ bụng ra sau lưng bao bọc ruột non làm
trung tiêu. Nơi bụng dướI có màng mỡ nối ruột già, bàng quang, bộ sinh dục ra
sau mông đùi làm hạ tiêu.
Tam
tiêu là hệ thống giao thông làm thông khí, thông huyết, làm mát mẻ tạng phủ bên
trong, làm thấm nhuần da thịt bên ngoài hồng hào. Hạ tiêu là nguồn gốc sinh vệ
khí phát xuất từ sự khí hóa của bàng quang, vệ khí ban ngày đi ra phần dương,
ban đêm đi trong phần âm, ngày mở đêm đóng. Còn vinh khí mượn hệ thống giao
thông của tam tiêu đi khắp 12 kinh thành một vòng trong 24 giờ, nơi giao hòa hỏa
thủy của tâm thận thành ra lục khí ứng vớI lục kinh để cho sự khí hóa của tạng
phủ được tốt đẹp.
Tam
tiêu cũng còn là hệ thống cấu trúc các đường dây thần kinh liên lạc giữa các
tạng phủ dọc theo cột sống lên đầu ra tay chân theo các đường kinh mạch để thống
nhất sự chỉ huy các hoạt động hưng phấn hoặc ức chế đối vớI hệ giao cảm hay vận
động để giữ cơ thể được quân bình về âm-dương, thủy hỏa, hàn nhiệt, khí huyết,
vinh vệ, thăng giáng.. Tất cả các sự quân bình ấy tạo ra hOE thống nộI dược có
nhiOEm vụ vừa sinh hóa vừa chuyển hóa để bồi bổ phát triển cơ thể vừa duy trì sự
sống cho con người.
doducngoc


17:11
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét