1-Huyệt là gì
?Huyệt là một điểm nhạy cảm nhất so với chỗ khác,
có cảm giác tê, tức đau lan truyền khi bấm vào. Huyệt có thể nằm
trên gân gọI là cân huyệt, nằm trên mạch máu gọi là huyết huyệt, nằm trên cơ
nhục gọi là cơ huyệt, nằm trên xương gọi là cốt huyệt, nằm giữa hai khe xương
gọi là khích huyệt, nơi đau tại chỗ có thể nằm trên đường kinh hay ngoài đường
kinh gọi là a thị huyệt (thị là tại chỗ, khi bấm vào đó bị đau kêu lên thành
tiếng a ).
2-Lịch sử thành hình khoa châm cứu
:
Huyệt đã được biết đến từ thời kỳ con người còn ăn lông
ở lỗ, đó là những điểm đau a-thị-huyệt, và con người cũng biết sử dụng một cục
đá nhỏ có đầu nhọn để tự ấn vào điểm đau, họ cảm thấy dễ chịu, bớt đau, người ta
gọi là phương pháp biếm châm , dần dần theo thời gian, con người có kinh nghiệm
tìm ra nhiều điểm đau có liên quan đến bệnh, và cũng đã biết chế ra kim châm thô
sơ thay cho cục đá.
Cũng tùy theo những điểm đau, họ cảm thấy có lúc dùng
kim châm cũng không hết đau, mà dùng tay ấn vào huyệt cho ấm lên thì cái đau
biến mất, nên đã thay thế bằng cách hơ nóng nơi đau, kể từ đó đã có những người
chuyên môn biết châm huyệt và cứu huyệt để chữa các bệnh tê đau nhức mỏi, người
đời xưa gọi là thầy châm cứu.
Về sau các thầy châm cứu cổ đại đã nghiên
cứu tìm ra các điểm đau có tính dẫn truyền nên bổ sung thành những đường kinh
đơn giản chưa có mối quan hệ giữa kinh này với kinh khác nên chưa biết có sự
tương quan ngũ hành.
Qua kinh nghiệm của nhiều thời đại, các thầy châm
cứu chỉ coi huyệt như là một vị thuốc đơn chất ( giống như một nguyên tố hóa học
), đau đâu chữa đó, nên đã gặp những trở ngại, càng châm nhiều huyệt lại càng
không khỏi, họ nghi ngờ có sự liên quan biến dịch xung khắc ngũ hành của huyệt
,họ mới xin phép nhà vua cho mổ xẻ tử tội để học hỏi rút tỉa kinh nghiệm lý luận
,rồi sắp xếp lại khả năng chuyên trị của từng huyệt, huyệt nào hữu hiệu hơn
huyệt nào để thành một khoa châm cứu và truyền kinh nghiệm cho đời sau, khoa
châm cứu dần dần thành hình từ thời đại Tần-Hán với quyển NộI Kinh ( Tố vấn-
Linh xu khoảng năm -246, -25 ).
Qúa trình hình thành quyển Nội Kinh là do
góp nhặt kinh nghiệm xương máu của các tử tội qua nhiều thế hệ, nhiều thời đại
của mấy ngàn năm trước mới xong phần châm cứu căn bản có hệ thống âm dương ngũ
hành và kinh mạch, lúc đó sự biến hóa kỳ diệu của huyệt không phải là một đơn
chất như một nguyên tố hóa học mà là một thành phần trong một hợp chất tạo ra
một công dụng khác trong chữa bệnh.
Như vậy đông y châm cứu đã qua thời
kỳ đơn huyệt với những thí nghiệm bằng mổ xẻ do các thái y được phép nhà vua cho
sử dụng tử tội để nghiên cứu, rút kinh nghiệm lập thành hệ thống kinh mạch huyệt
đạo gồm 365 huyệt, sắp xếp theo kinh mạch, âm dương, ngũ hành, theo tạng phủ,
rồi đem ứng dụng đều thấy có kết qủa giống nhau trong khoảng thời gian dài cả
ngàn năm, lúc đó các thái y đờI sau thấy không cần thiết lạm dụng tử tội để thí
nghiệm những cái đã biết do đời trước để lại, vì vậy ngày nay tây y đã sai lầm
cho rằng kinh nghiệm đông y là trừu tượng mơ hồ, không biết mổ xẻ như tây y nên
không đáng tin cậy. Thực ra các giáo sư bác sĩ ở các đại học tây phương sang
Trung quốc học châm cứu đã từng thắc mắc làm sao đông y biết được kinh mạch và
huyệt đạo nếu đông y chưa từng biết đến mổ xẻ cơ thể con người. Chúng ta nghe
chính họ đã viết như sau: Dans la Chine ancienne, en effet, une des sentences
communément appliqués à certains crimes était la torture qui consistait souvent
en une vivisection. Le criminel était littéralement coupé en pièces, vivant, et
plus longtemps le bourreau pouvait garder son client vivant sous un tel
traitement, plus grande était son habileté professionnelle. à cette époque, les
médecins, même s’ils n’étaient pas autorisés à toucher le criminel, pouvaient
cependant assister à la séance de tortures. Il n’est donc pas étonnant que ces
médecins, en observant l’interaction des organes dans un corps vivant, aient
développé la théorie de l’existence d’un flux d’énergie ciculant dans
l’organisme, alors que ce flux d’énergie échappait aux médecins occidentaux,
traditionnellement habitués à disséquer des cadavres dans lesquels l’énergie a
par définition cessé de circuler.. ( Manupuncture de Massimo N. di Villadorata,
page 11 ).
Khoa châm cứu thịnh hành từ đời Hậu-Hán (25-220 sau Tây lịch
)và ông tổ châm cứu thời đó là thần y Tần Việt Nhân hiệu Biển Thước đã có công
bổ sung 41 vấn đề thắc mắc khó hiểu của môn trị bệnh bằng châm cứu gọi là Nạn
kinh . Sau tổ châm cứu Biển Thước 1000 năm ,ngành đông y cũng phát triển mạnh về
cách chữa bệnh bằng cây cỏ dựa trên quyển Bản Thảo Thần Nông được bổ sung thêm
bằng kinh nghiệm của Ông tổ Hoa Đà thời Tam Quốc. Cả hai phương pháp chữa bệnh
bằng châm cứu và bằng dược thảo đều thống nhất quy luật biến hóa của Âm-Dương
ngũ hành. Nên mỗi vị thuốc hoặc mỗi huyệt là một đơn chất có công dụng khác hoàn
toàn với công dụng của hợp chất khi chúng được phối hợp lại, giống như tây y
,đơn chất Chlor, và đơn chất Natri là hai độc tố khi chưa chế biến, nhưng khi
chế biến thành một hợp chất sẽ trở thành muối ăn không có độc. Cho nên nhiều đơn
chất có thể kết hợp thành nhiều hợp chất khác nhau để có được những công dụng
chữa bệnh như ý muốn sẽ tùy vào khả năng hiểu biết và tiến bộ của ngành tây
y.
3-Tính chất
của huyệt :
Khi tác động lên huyệt, truyền theo hệ thần
kinh nó sẽ kích thích hệ nội tiết và miễn nhiễm của cơ thể để cho một phản ứng
hóa học tạo thành một vị thuốc . Như vậy mỗi huyệt coi như là một thành phần hóa
học tạo ra thuốc. Nhưng hiệu năng của huyệt biến đổi đa dạng có nhiều hay ít
công dụng còn tùy vào kiến thức của người biết cách lý luận để phối hợp huyệt
thành một bài thuốc. Cho nên cách bào chế thuốc bằng huyệt theo kinh nghiệm của
các thầy thuốc châm cứu tây y và đông có nhiều khác biệt rất
xa.
a-Theo kinh
nghiệm châm cứu của các thầy thuốc tây y :Các bác sĩ châm cứu tây y
phải mất một thời gian dài gần 100 năm mới chỉ tìm ra được khả năng đơn chất của
từng huyệt, đã phải qua nhiều thử nghiệm, kiểm chứng và thống kê để biết được
tính chất các huyệt rõ ràng như đã biết tính chất của các nguyên tố hóa học hay
tính chất và công dụng của từng loại vitamine.
Thí dụ như huyệt Túc Tam
Lý được ông tổ châm cứu Tây phương tên Soulié de Morant,( một bác sĩ Pháp, cựu
đại sứ Pháp tại Trung Quốc đã học được môn châm cứu của đông phương đem về
truyền dạy lại cho các bác sĩ tây phương) đã thử nghiệm tính chất huyệt này có
điện thế rất mạnh để chữa bệnh thể chất mệt mỏi, tinh thần suy nhược lo lắng.
Trường Đại học Quân y 4 Trung Quốc sau khi thử nghiệm kết luận châm huyệt này
thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng nhiều nhất. Các trường Đại học Y khoa khắp
thế giới có nghiên cứu tính năng của huyệt châm cứu cho biết các kết qủa thử
nghiệm của huyệt Túc tam lý như sau : Làm co bóp nhu động ruột và bao tử mạnh và
nhanh hơn, tiết dịch vị nhiều hơn, làm tăng bạch cầu, tăng cường tuyến hoạt động
thượng thận, tăng trọng lượng làm dầy vỏ tuyến thượng thận, làm cho adrénaline
tiết ra nhiều hơn, làm thay đổi điện tâm đồ, châm vaccin thương hàn vào huyệt
thấy hiệu qủa làm tan vi khuẩn nhanh hơn..Tất cả những khám phá đó cũng chỉ là
đơn chất do huyệt tạo ra. Các huyệt khác cũng đang tìm tòi thử nghiệm theo tiêu
chuẩn khoa học tương tự như vậy, tây y đang tìm kiếm khả năng của huyệt , mỗi
huyệt tạo ra được vị thuốc gì.
Nhưng phương pháp điều chế thành một hợp
chất cần thiết phù hợp với bệnh là những huyệt có tính chất đối chứng trị liệu
lâm sàng sau khi khám âm dương hư thực hàn nhiệt mới biết cách lập lại quân bình
,thì chưa có kinh nghiệm, vẫn còn phải mất nhiều thời gian nữa mới hệ thống hóa
được các huyệt , e rằng phải đi lại con đường bốn, năm ngàn năm trước mà y học
đông phương đã trải qua.
Về lãnh vực Tây y dược, ngày nay chúng ta dựa
vào bảng nguyên tố hóa học làm kim chỉ nam trong mọI nghiên cứu tìm tòi, chế
biến hóa dược, mặc dù đã tiến bộ rất xa, nhưng chưa biết hết được khả năng tính
dược còn nhiều bí mật ,để có thể sản xuất ra các loại thuốc chữa bệnh như ý
muốn, mặc dù đã biết xếp loại nào là gốc acide, loại nào gốc base, gốc carbure..
Rồi còn phải nghiên cứu biết cách phối hợp acide nào đi vớI gốc base nào cho ra
loại muối nào, song song vớí việc khám bệnh xem cơ thể cần loại muối nào mớI phù
hợp. Cho nên ở thị trường tây dược có loại thuốc thuộc acide, có loại thuốc
thuộc base, có loại thuốc thuộc muối cũng nhiều vô kể mang tên thương mại khác
nhau để đem điều trị bệnh cho bệnh nhân,sau năm mười năm mới rút tỉa ra được
kinh nghiệm lâm sàng là lợi hay hại của thuốc, nếu lợi không sao, còn nếu hại
gây biến chứng thành bệnh khác thì đã qúa muộn.
b-Về lãnh vực nghiên cứu huyệt thay thuốc
:Tìm huyệt để điều chế phối hợp sao cho đúng phân lượng thuốc mà cơ
thể cần, điều này ngành châm cứu tây y cũng vẫn còn đang nghiên cứu, nhưng mới
chỉ nghiên cứu được công dụng của đơn huyệt. Vì thế chúng ta không lấy làm lạ
trên những sách học châm cứu của tây phương, công dụng chữa bệnh của một huyệt
rất ít, chỉ chữa được một hai bệnh theo lý thuyết, nhưng áp dụng kém hiệu qủa
dẫn đến những hoài nghi thắc mắc vì có nhiều huyệt ghi chữa được cùng một bệnh
giống nhau, nhưng thực tế lâm sàng có khác biệt để chọn huyệt, thí dụ có 5 huyệt
ghi chữa nhức đầu, các thầy thuốc tây y không biết phải chọn xem huyệt nào hay
nhất, nếu dùng sai nó sẽ phản tác dụng, nếu có sinh viên nào thắc mắc hỏi thầy
tại sao lại có tình trạng như vậy, thầy cũng chưa trả lời được, vì cách chọn
huyệt lệ thuộc vào đối chứng lâm sàng, thí dụ như đau đầu do lạnh dùng huyệt 1,
do cảm nắng dùng huyệt 2, do kinh nguyệt dùng huyệt 3, do áp huyết dùng huyệt 4,
do suy nghĩ nhiều dùng huyệt 5.....Đối với đông y, trên lý thuyết người ta đã
tìm ra tính chất của huyệt theo đơn chất nên mới áp dụng kiểu chọn một huyệt
thích hợp cho một trong hàng trăm loại nhức đầu khác
nhau.
BởI vì thực ra đông y không còn xem huyệt là một đơn
chất, mà huyệt là một đơn vị trong một thế trận, khi nó làm quân, khi nó làm
thần, khi nó làm tá, khi nó làm sứ, theo kỹ thuật phối hợp thuốc của ngành đông
dược, mỗi lúc mỗi biến hóa khác nhau theo một quy luật khí hóa ngũ hành. Điều mà
ngành châm cứu tây y tránh né vì nó trừu tượng không thể hiểu để giảng giải và
áp dụng.
c-Nghiên cứu và phân
tích qua một thí dụ :Chúng ta lấy một thí dụ cách chữa chứng bệnh áp
huyết, phân tích theo cách chữa bằng huyệt của tây y và đông y cũng đã có qúa
nhiều cách biệt về kinh nghiệm điều trị.
Theo châm cứu tây y :
Nếu có
hai đơn chất, huyệt A thuộc nhóm acide, huyệt B nhóm base cũng chữa được bệnh
trên, thầy thuốc phải chọn huyệt nào ? Có người chọn A, có người chọn B, có
người chọn cả hai AB thuộc dạng muối .
Chúng ta sẽ phân tích kết qủa như
sau :
Nếu áp huyết do thiếu acide thì phải bổ huyệt A để tăng acide.
Nếu
áp huyết do dư acide thì phải tả huyệt A để giảm acide.
Nếu áp huyết do thiếu
base thì phải bổ huyệt B để tăng base.
Nếu áp huyết do dư base thì phải tả
huyệt B để giảm base.
Nếu không hiểu chứng bệnh áp huyết thuộc loại nào, mà
cứ nghĩ rằng huyệt A cũng chữa áp huyết, huyệt B cũng chữa áp huyết, nên dùng cả
hai huyệt, lại trở thành loại thuốc muối AB không hợp với bệnh sẽ gây nguy hiểm
cho bệnh nhân. Khi thực hành châm AB, phải châm bổ, hoặc châm tả cũng lại là vấn
đề không biết, hậu qủa sẽ ra sao?
Còn như áp huyết nguyên nhân do muối, cần
phải tìm loại muối nào thích hợp, AB, hay CD, hay EF..liều lượng bao nhiêu, phải
bổ sung thêm bao nhiêu lại là vấn đề nan giải khác.
Nếu áp huyết do dư muối,
phải tìm ra loại muối nào dư, chọn những đơn huyệt nào phối thành một hợp chất
để tiêu hủy chất muối gây nên bệnh áp huyết.
Kết luận : Qua thí dụ trên
,châm cứu Tây y chưa tìm ra gốc bệnh của chứng áp huyết theo đúng tiêu chuẩn sử
dụng huyệt của đông y thì không thể nào biết cách chữa cho đúng .Tương tự đối
với các bệnh khác cũng nan giải ,ít thành công.
-Theo kinh nghiệm châm
cứu của thầy thuốc đông y :
Nếu cho bệnh nhân đi thử máu, phân, nước tiểu,
virus, vi trùng, điện tâm đồ, huyết mạch theo tây y, cũng có thể phân loại chứng
áp huyết thuộc acide hay base, hay muối, dư hay thiếu loại acide nào, base nào,
muối nào..( ở Tây phương ,nếu các bác sĩ châm cứu chưa được quyền gửi bệnh nhân
đi xét nghiệm là một thiệt thòi trong vấn đề nghiên cứu sự tiến bộ của khoa châm
cứu theo tiêu chuẩn tây y ).
Theo đông y, muốn phối hợp huyệt để chữa một
bệnh, trước hết đông y phải biết phân tích nguyên nhân bệnh một cách rõ ràng
theo tiêu chuẩn bát cương, là bệnh thuộc âm hay dương, ( khí hay huyết ), hàn
hay nhiệt, hư hay thực, biểu hay lý. Khám bệnh theo bát cương ,các bác sĩ châm
cứu tây y cảm thấy nó trừu tượng, phiền phức, khó chẩn đoán, không có kinh
nghiệm, đa số đều bỏ qua việc truy tìm ngưyên nhân theo bát cương, chỉ chữa theo
chứng ngọn mà bệnh nhân kể, nên không thể nào hiểu được sự biến hóa kỳ diệu của
quy luật âm dương ngũ hành.
Ngay cả các thầy thuốc đông y kiến thức hiểu
biết như nhau, bằng cấp như nhau, trình độ như nhau, nhưng kinh nghiệm lâm sàng
để khám và tìm cách phối hợp huyệt vẫn thấy rõ sự hơn kém khác nhau trong điều
trị. Cách điều trị khác nhau đó được chia thành ba bậc : Bậc hạ công là dụng tâm
chữa ngọn, kết qủa nhanh thấy rõ ngay, chứng bệnh hết, nhưng gốc bệnh còn, sau
sẽ chữa tiếp để ngừa biến chứng sang bệnh khác. Bậc trung công là biết phối hợp
huyệt vừa chữa ngọn vừa chữa biến chứng truyền kinh, kết qủa tuy có chậm nhưng
bệnh không bị biến chứng.
Bậc thượng công là biết phối hợp
huyệt vừa chữa ngọn, vừa chữa gốc, vừa ngừa biến chứng truyền
kinh.
Đời sau muốn học để chữa bệnh có kết qủa nhanh, bắt
chước kinh nghiệm của bậc hạ công, mau nổi tiếng, chữa được chứng này hết, rồi
lại chữa chứng khác khi có biến chứng truyền kinh sẽ kiếm được nhiều tiền hơn,
hành y như thế thiên hạ gọi là bá đạo. Đa số có lương tâm hành y như bậc trung
công thiên hạ gọi là y đạo. Còn các thầy thuốc dầy dặn kinh nghiệm thuộc bậc
thượng công, cứu bệnh nhân không phải vì tiền, bệnh thuyên giảm rồi khỏe mạnh,
hết bệnh, không tái phát, thiên hạ gọi là vương đạo. Vì thế đông y mới cần phải
biết đối chứng trị liệu lâm sàng, phối hợp huyệt theo bát pháp nào mình chọn cho
phù hợp với bát cương đã khám được, và công thức huyệt phải là vương đạo hay y
đạo, trừ trường hợp cấp tính trong cấp cứu mới phải dùng đến công thức theo bá
đạo.
Đối chiếu với đông y, dạng acide hay base đông y gọi là hàn hay
nhiệt. Thực ra đông y không biết hàn nhiệt là base hay acide, mà chỉ biết hàn
hay nhiệt đều do khí trong cơ thể biến hóa ra, có cách tìm theo tiêu chuẩn âm
dương, nếu muốn giải thích khí hàn nhiệt theo khoa học, chúng ta có thể dùng máy
micro-wave để giải thích, khi bỏ thức ăn nguội vào lò, bấm nút, chúng ta không
nhìn thấy một vật chất nào tác động, chỉ là một bức xạ nhiệt truyền trong không
khí bưng bít kín trong lò làm cho thức ăn nóng lên, bức xạ nhiệt đó tạo ra
nhiệt. Ngược lại, nếu khoa học nghiên cứu máy micro-wave với một cấu trúc khác
có công dụng tạo ra bức xạ hàn để làm nguội thức ăn, thì bức xạ hàn tạo ra khí
hàn, cái mà hiện nay khoa học chưa nghĩ tới, chứ không phải là không làm được,
chỉ cần thay đổi những con chip điện tử và hệ thống phối hợp mạch đìện. Như vậy
huyệt giống như một con chip điện tử, nhưng sự biến hóa để tạo ra một công dụng
sẽ khác nhau ( như hàn hay nhiệt ) tùy vào mức độ hiểu biết và khả năng chế tạo
của nhà bác học.
Dư hay thiếu khí nào, huyết nào, kinh nào ,mạch nào,
đông y phải tìm ra thực hay hư. ,giống như một chuyên viên sửa chữa mạch điện,
đo volt, đo ohm, đo ampère hoặc đo tần số sóng đìện bằng máy đo oscilloscope ở
các đầu ra, đầu vào ở mỗi con chip để biết con chip đó còn giữ đúng tiêu chuẩn
của mạch điện theo yêu cầu kỹ thuật hay không, nó vượt tiêu chuẩn nhiều hơn gọi
là thực, nó suy kém không đủ tiêu chuẩn gọi là hư.
Ngoài cơ sở vật chất
do biến đổi khí huyết, hư thực, hàn nhiệt thuộc KHÍ, đông y còn khám xét đến yếu
tố tinh thần gọi là THẦN và yếu tố do ăn uống làm lợi hay hại cho bệnh gọi là
TINH cũng là nguyên nhân gây bệnh.
Chứng áp huyết còn nhẹ mới phát có thể
do xáo trộn tâm lý thần kinh thuộc hư chứng như buồn, chán đời ( depression )
hay thực chứng như tức giận, căng thẳng thần kinh, lo nghĩ nhiều ( nerveuse,
stress ).
Nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động giống như nguồn
năng lượng cung cấp cho một mạch điện, nếu không có hoặc không đủ, máy cũng sẽ
hư hỏng, rồi các con chip trong máy không thường xuyên chạy để bảo trì nó cũng
sẽ bị ẩm thấp, hoặc khô nứt làm hư hỏng. Cơ thể con người cũng vậy, thức ăn cung
cấp năng lượng hoạt động cho cơ thể ,đông y gọi là yếu tố TINH. Nếu nguồn năng
lượng vào cơ thể bệnh không đúng nhu cầu đang cần, giống như cung cấp thay thế
mấy con chip không đúng mã số, máy không chạy được. Cũng như thế, trong thức ăn
hoặc ngay cả thuốc uống để chữa bệnh có thành phần acide, base, muối, có thứ
tăng hàn, có thứ tăng nhiệt, có thứ tăng huyết, có thứ hại huyết, có thứ tăng
khí, có thứ hại khí ,nó có thể lập lại quân bình sự hoạt động cơ thể hay làm mất
quân bình hại cơ thể thêm , tùy theo sự mất năng lượng bên trong cơ thể nặng hay
nhẹ, nếu nhẹ đông y gọi là bệnh còn ở biểu. Nếu tiếp tục ăn hoặc uống thuốc chữa
bệnh sai không đúng những chất mà cơ thể cần thành bệnh nặng hơn, mãn tính, đông
y gọi là bệnh ở lý.
d- Cách
lập lại quân bình của đông y là đối chứng trị liệu lâm sàng :Bệnh ở
biểu, đông y khám xem do hàn thì làm mất hàn, hay cần phải tăng thêm nhiệt. Do
nhiệt thì làm bớt nhiệt hay cần phải tăng hàn.
Bệnh ở lý, là bệnh thuộc
dạng muối, nửa hàn, nửa nhiệt, hàn nhiều hơn nhiệt, hay nhiệt nhiều hơn
hàn.
Muốn biết nguyên nhân tại sao hàn, tạo sao nhiệt, tại sao lẫn hàn
lẫn nhiệt, đông y còn phải học thêm về cách phân tích bệnh lý theo âm dương ,tức
là bệnh do khí hay huyết, hay do cả hai.
Khí hay huyết bị xáo trộn do
tạng phủ nào, chứng áp huyết theo kinh nghiệm đông y có thể do một hay nhiều
nguyên nhân sau đây :
Do tim, (nghẹt van tim, hẹp van tim, hở van
tim..)
Do màng bao tim và ống mạch (tắc do cholesterol, máu vón
đóng cục, trong máu có nhiều vôi, hẹp ống mạch )
Do lá mía ( trong bệnh tiểu
đường )
Do bao tử (do ăn nhiều chất nóng tăng nhiệt, chưa tiêu hóa kịp làm
khó thở mệt tim )
Do phổi (viêm, suyễn, nghẹt đờm, hút thuốc nhiều nóng
phổi..)
Do đại trường (bệnh táo bón, viêm ruột kinh
niên..),
Do thận (sưng bể thận, thận nhiệt trong bệnh tiểu
đường..)
Do bàng quang ( nhiễm trùng, viêm tắc..),
Do gan
(nóng gan, có độc trong gan, trong máu..),
Do túi mật ( tiết
mật quá nhiều, tắc tuyến mật ..v.v..)
Tất cả các nguyên nhân trên, thầy
thuốc đông y phải tìm ra trên lâm sàng (trong khi khám trực tiếp trên giường
bệnh ), sau đó phải tìm ra cách đối phó với nguyên nhân ấy gọi là đối chứng trị
liệu lâm sàng . Như vậy, riêng một bệnh về áp huyết do nhiều nguyên nhân thì
cũng phải có nhiều công thức khác nhau để đối chứng trị liệu, rồi trị liệu khi
nào cần cấp cứu như bá đạo, khi nào chữa theo y đạo, khi nào chữa theo vương
đạo, nếu chỉ ăn cắp sưu tập hàng trăm công thức để chọn ra một công thức cầu may
nào mà mình nghĩ rằng phù hợp với bệnh nhân là chữa không đúng theo cách đối
chứng lâm sàng.
Muốn đối chứng trị liệu lâm sàng được chính xác phải hiểu
cách lý luận biện chứng ngũ hành, và ngũ hành là gì ?
Đông y gọi chung
những nguyên nhân kể trên thuộc ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Có ngũ hành
thuộc âm huyết, có ngũ hành thuộc dương khí .
Kim tượng trưng cho phổi và đại
trường.
Thủy tượng trưng cho thận và bàng quang.
Mộc tượng trưng cho gan
và túi mật.
Hỏa tượng trưng cho tim và ruột non; tâm bào và tam tiêu.
Thổ
tương trưng cho lá mía và bao tử.
Lý thuyết ngũ hành là một định đề như
toán học, toán học nhờ định đề mới có thể chứng minh được mọi bài toán để đem
ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Cũng như thế, có công nhận định đề âm dương ngũ
hành, mới khám phá ra những lý luận chặt chẽ để tìm ra nguyên nhân gây bệnh, tìm
được nguyên nhân bệnh theo đông y đã khó, lại còn phải theo quy luật âm dương
ngũ hành của huyệt phù hợp với âm dương ngũ hành của bệnh để biết lập lại quân
bình sự khí hóa lại là việc khó hơn nữa, cho nên ngay cả một số thầy thuốc không
giỏi lý luận ngũ hành, để tự mình có thể điều chế ra thuốc cho phù hợp với tình
trạng bệnh mà chỉ biết áp dụng những công thức sẵn có của người khác để lại thì
không thể nào gọi là phương pháp đối chứng trị liệu lâm sàng cho riêng bệnh của
từng người được.
e-Sự khác
biệt cách áp dụng đối chứng lâm sàng của tây y và đông y :Thí dụ có
một bệnh nhân khai bệnh như sau :
Xây xẩm, ù tai, mắt mờ, lòng bàn tay chân
nóng, di tinh, mất ngủ, lưng gối đau nhức mỏi, khô miệng.
ĐỐI CHỨNG TRỊ
LIỆU Theo Bác sĩ Tây y :
Dấu hiệu lòng bàn tay chân nóng : Đo nhiệt độ : Nếu
bình thường thì không phải bệnh nhiễm trùng, nếu nhiệt độ cao phải thử máu tìm
vi trùng.
Xây xẩm : Đo áp huyết nếu thấp là do thiếu máu sẽ cho thuốc bổ máu,
nếu bình thường thì bỏ qua vì là nguyên nhân thứ phát.
Mắt mờ : Nếu không do
áp huyết thấp, gửi đi chuyên khoa khám mắt.
Mất ngủ : Cho thuốc an
thần.
Đau lưng nhức mỏi : Cho thuốc giảm đau. Nếu thuốc giảm đau không hết,
gửI đi chuyên khoa chụp hình lưng gối.
Khô miệng : Khuyên uống nhiều
nước.
ĐỐI CHỨNG TRỊ LIỆU Theo châm cứu Tây y
Chọn những
đơn huyệt nào chữa xây xẩm, huyệt nào chữa ù tai và di tinh, huyệt nào hạ nhiệt,
huyệt nào chữa mất ngủ, huyệt nào hành khí hành huyết cho khí huyết lưu thông,
huyệt nào chữa đau nhức mỏi. Nếu chữa theo đơn huyệt bệnh nào huyệt nấy là chữa
ngọn, phải chữa nhiều huyệt cho nhiều bệnh là đã phạm quy luật xung khắc ngũ
hành, tất cả số huyệt gom lại tạo nên một thế trận mâu thuẫn kỳ quái, cơ thể
tiết ra một loại thuốc kỳ quái thành liều thuốc độc gây phản ứng phụ, đã không
chữa được những bệnh kể trên mà tạo ra một bệnh khác, cho nên châm cứu tây y lại
nghi ngờ đến khả năng chữa bệnh của huyệt. Nếu chữa ngọn như thế kéo dài cả năm
bệnh cũng không khỏi. Nhưng nếu chữa theo bá đạo, bệnh nhân khai nhiều bệnh,
nhưng mỗi lần chữa, chỉ chữa một bệnh thì không phạm ngũ hành, hợp huyệt tạo
thành một thế trận duy nhất tạo ra một vị thuốc tập trung cho một bệnh, châm vài
lần hết được một bệnh, được bệnh nhân cho là thầy giỏi, châm đợt hai bớt bệnh
thứ hai, châm đợt ba bớt bệnh thứ ba, châm đợt bốn bớt bệnh thứ tư, một thời
gian sau bệnh thứ nhất tái phát, rồi lần lượt các bệnh cũ tái phát lại tiếp tục
chữa như cũ . Vì theo châm cứu Tây y chỉ có những huyệt đó đã nghiên cứu và đã
biết thì khả năng của huyệt chỉ giới hạn có vậy thôi. Như vậy, thực tế chưa có
một thầy thuốc châm cứu tây y nào được thiên hạ biết đến trong những ca bệnh
thành công mà báo chí phổ biến như những ca thành công của các bác sĩ tây y. Các
thầy thuốc châm cứu tây y còn nghi ngờ đến khả năng chữa bệnh của huyệt vì không
biết áp dụng quy luật âm dương ngũ hành, bát pháp, bát cương để lập thế trận tạo
ra thuốc bằng hợp huyệt, nhưng có một số các thầy thuốc châm cứu tây y có chí
học hỏi nghiên cứu thêm, hằng năm vẫn sang Trung Quốc tu nghiệp nâng cao kiến
thức và tay nghề, nhưng dù sao đánh giá khả năng của các thầy thuốc châm cứu
không ai chính xác bằng các bệnh nhân, khi họ muốn chữa bệnh bằng châm cứu họ đã
chọn các thầy châm cứu người Á đông hơn là người tây phương.
ĐỐI CHỨNG
TRỊ LIỆU Theo châm cứu đông y :
Dựa theo kinh nghiệm cổ nhân đã nghiên cứu
thực nghiệm thành công từ mấy ngàn năm, từ đời này sang đời khác, kết qủa đều
giống nhau, từng để lại câu nói ''cái gì chưa biết mới cần phải thử, cái đã biết
rồi khỏi cần phải thử nữa '' , cho nên khi học về triệu chứng lâm sàng, sách có
ghi CHỨNG CAN THẬN ÂM HƯ như sau: Một trong hai tạng suy đều có ảnh hưởng cả
hai, nên dấu hiệu cả hai tạng đều xuất hiện cùng lúc như xây xẩm, tai ù, mắt mờ,
lòng bàn tay chân nóng, di tinh ,mất ngủ, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ, ít nước bọt.
Theo kinh nghiệm cổ nhân, các chứng này thường gặp ở các bệnh nhiệt cấp tính
thời kỳ cuối, bệnh rối loạn tiền đình, bệnh thiếu máu, bệnh thần kinh, bệnh nộI
thương, bệnh kinh nguyệt.
Trong triệu chứng lâm sàng học đã nói một chứng
sinh ra nhiều bệnh (định lý thuận ), nhưng một bệnh có thể do nhiều chứng khác
nhau không giống nhau ( định lý đảo ).
Như vậy, bệnh rối loạn tiền đình
hay bệnh thiếu máu, hay bệnh thần kinh, hay bệnh kinh nguyệt có thể do chứng can
thận âm hư, có thể do chứng can hư, có thể do chứng tâm thận bất giao, có thể do
nhiều chứng khác nữa. Tuy nhiên các chứng được xem là nguyên nhân gây bệnh đều
phải nói lên được các yếu tố sau đây : tạng hay phủ nào, thuộc khí hay huyết, hư
hay thực, hàn hay nhiệt, biểu hay lý, để khi đối chứng trị liệu sẽ tìm ngũ hành
tương sinh hay tương khắc để bổ hay tả, để tăng hay gỉảm hàn hay nhiệt. Cách
chữa bổ, tả, hàn, nhiệt, phương pháp chọn công thức chữa tùy vào kinh nghiệm và
kiến thức hiểu biết của thầy thuốc muốn chữa theo bát pháp nào, cho ôn hay cho
hòa, cho liễm hay cho xuất, cho thăng hay cho giáng, chữa vào khí hay vào huyết,
hay cả khí cả huyết cùng lúc. Nói như thế thì chứng can thận âm hư chúng ta cũng
có thể phát minh ra mấy chục công thức khác nhau, miễn làm sao sau khi chữa
những dấu hiệu lâm sàng do bệnh nhân khai phải có sự thay đổi chuyển biến từ xấu
sang tốt trong thời gian ngắn, lần chữa thứ hai dấu hiệu lâm sàng bớt đi, công
thức đối chứng trị liệu lâm sàng phải thay đổi hợp huyệt khác lập thành thế trận
mới, sau khi chữa bệnh thuyên giảm, chữa lần thứ ba khám lại dấu hiệu lâm sàng,
rồi đối chứng trị liệu lâm sàng, đổi hợp huyệt lập thế trận khác nữa, thế trận
mỗi lúc mỗi thay đổi cho đến khi khỏi bệnh hoàn toàn không tái phát. Nếu thầy
thuốc nào cứ một công thức dùng hoài thì không phải là đối chứng trị liệu lâm
sàng, cách thay đổi công thức này tây y không chấp nhận. Đối với tây y, một bệnh
chỉ có một công thức chữa mà thôi.
Nếu so sánh châm cứu tây y với châm
cứu đông y thì châm cứu tây y đi theo con đường khoa học thực nghiệm, thực
chứng, theo mô hình đơn chất như một nguyên tố hóa học, cho nên việc điều chế
nhiều đơn chất thành hợp chất như các hợp chất hóa học thì cũng không bao giờ đủ
thuốc để chữa mọi bệnh và đúng nhu cầu của bệnh, và chính các hợp chất hóa dược
định chế biến cũng phải mất bao nhiêu công phu và thời gian tìm tòi, thử nghiệm,
áp dụng lâm sàng, rút kinh nghiệm trong một thời gian qúa dài mà vẫn chưa đi
đúng đường của đông y là đối chứng trị liệu lâm sàng.
Về lý
luận ngũ hành trong khám bệnh, tìm bệnh trên lâm sàng, đông y dùng phương pháp
tứ chẩn : vọng, văn, vấn, thiết để phân tích bệnh tình theo bát cương : âm,
dương ( khí, huyết), hư, thực, hàn, nhiệt , biểu, lý.
Về lý luận ngũ hành
trong đối chứng trị liệu , là bổ cái gì, tả cái gì ( khí hay huyết, tạng nào,
phủ nào, tâm , can, tỳ, phế, hay thận..) theo tiêu chuẩn một trong tám phương
pháp gọi là Bát pháp: Ôn, trấn, thanh, hòa, xuất ( thổ, hạ, tiết), liễm, bổ,
tả.
Về lý luận ngũ hành chọn huyệt , không căn cứ theo đơn huyệt như châm
cứu tây y, mà nghiên cứu theo chức năng khí hóa của huyệt có những tính chất
khác biệt như :
Bát hội huyệt chủ chữa về : huyết, khí, gân, mạch, cốt,
tủy, tạng hội, phủ hội.
Vinh huyệt chủ dinh dưỡng, phát triển.
Vệ huyệt là
hệ nội tiết, miễn nhiễm phòng chống bệnh.
Ngũ du huyệt trên đường kinh để
điều chỉnh bổ thêm khí hoặc huyết cho mạnh lên hay tả bớt cho yếu đi để trợ giúp
đường kinh khác theo quan hệ mẹ con ( con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con ).
Ngũ du
huyệt theo chiều đi của khí mạnh hay yếu là các huyệt căn, kết ( huyệt khởi đầu,
huyết kết thúc ) ,và các huyệt Tĩnh, vinh, du, nguyên, kinh , hợp.
Du- Mộ
huyệt để chỉnh chức năng hay cơ sở tạng phủ.
Bối du huyệt chỉnh thần kinh
giao cảm, đối giao cảm của tạng phủ.
Chủ- khách huyệt theo biểu lý của Kỳ
kinh bát mạch.
Giao hội huyệt là huyệt có khả năng điều chỉnh bệnh tình của
hai đường kinh hay nhiều đường kinh mà không sợ phạm ngũ hành, thay vì phải chọn
nhiều huyệt trên nhiều đường kinh bị bệnh để chữa sẽ làm rối loạn thế trận ngũ
hành.
Ngoài ra còn hàn nhiệt huyệt, khích, lạc huyệt và đặc tính riêng cuả
huyệt theo bát pháp có tính chất thăng, giáng, xuất, liễm, hòa, cố.
f- Quân bình ngũ hành khí hóa của tổng thể
:Tức là chọn các huyệt theo một thế trận chung theo quân thần tá sứ,
giống như một bài thuốc uống bằng dược thảo, dĩ nhiên có rất nhiều huyệt công
dụng giống nhau có thể ứng tuyển, nhưng khi quyết định chọn, thì chỉ được chọn
một huyệt đáp ứng đúng với nhu cầu cần thiết sẽ tạo ra một sức mạnh kỳ diệu để
chữa bệnh bao gồm nhiều chứng, mà không cần phải dùng nhiều thuốc chữa nhiều
bệnh như tây y. Như vậy, công thức huyệt chúng ta lựa chọn chưa chắc giống vào
một trong hàng trăm công thức theo sách vở học lóm được của người khác. Còn phải
chú ý thế trận ngũ hành là tuân theo thứ tự ưu tiên của huyệt, làm đảo lộn thứ
tự huyệt sẽ trở thành một công thức thuốc khác để chữa bệnh khác. Thí dụ thứ tự
huyệt là 1234 chữa bệnh A, 1324 chữa bệnh B, 3214 chữa bệnh C, 4321 chữa bệnh D,
3421 chữa bệnh E, 3241 chữa bệnh F.. Như vậy theo các thầy thuốc châm cứu tây y
,nếu xem huyệt chỉ là đơn chất, và đặc tính của huyệt 1,2,3,4 là cố định, thì
miễn sao cứ sử dụng cả 4 huyệt cách nào cũng được thì sẽ không có kết qủa, bởi
chưa nghiên cứu được sự kỳ diệu của huyệt theo trận pháp ngũ hành, nên tây y còn
nghi ngờ khả năng chữa bệnh bằng huyệt của đông y.
g- Kỹ thuật tác động huyệt sao cho có hiệu
qủa :Vì cùng một chứng bệnh giống nhau, đã tìm ra một công thức huyệt
đối chứng lâm sàng giống nhau cho từng trường hợp bệnh, và do sự khí hóa lập lại
quân bình của công thức chế tạo thuốc bằng hợp huyệt, hay thuốc ngoại dược là
đông dược hoặc tây dược, bệnh sẽ biến chuyển mỗi lúc mỗi thay đổi khác nhau, cho
nên không thể dùng mãi một công thức, hay một loại thuốc cố định suốt đời được.
Nhưng yếu tố cuối cùng bệnh nhân mau khỏi bệnh hay không còn lệ thuộc vào kỹ
thuật tác động trên huyệt.
Có ba phương pháp tác động trên huyệt đem lại
kết qủa khác nhau :
a- Châm bằng kim kém hiệu nghiệm, vì ít có thầy giỏi châm
trúng huyệt, tùy theo người châm, kết qủa từ 10 đến 50%.
b- Day bấm huyệt
,tránh được sự lây nhiễm truyền bệnh qua kim châm cứu lại hiệu nghiệm hơn châm
kim, vì nó kích thích trực tiếp trên huyệt làm bệnh nhân đau, khiến bệnh nhân
phải chú ý theo dõi cái đau, bộ não phải điều tiết nội dược tạo phản ứng chống
đau, đó chính là thuốc do huyệt làm ra để tự chữa bệnh, cho đến khi bệnh nhân
cảm thấy hết đau nơi huyệt đã bấm. Day bấm huyệt có hiệu qủa chữa bệnh tốt hơn
châm cứu bằng kim, kết qủa 30-60%.
c- Vuốt huyệt truyền khí, bệnh nhân
không bị đau như day bấm huyệt, nhưng vuốt huyệt có hai tác dụng :
Tác dụng
do lực đẩy theo chiều bổ hay tả của ngón tay thầy thuốc làm cho đường kinh mạch
định hình và khí huyết trong cơ thể bệnh nhân được khai thông và chạy mạnh hơn.
Kết qủa 40-60%.
Tác dụng thứ hai do nội lực của thầy thuốc truyền sang tăng
thêm sức đẩy cho kinh mạch vô định hình chạy mạnh hơn, cũng vì thế ,thầy thuốc
chữa bệnh bằng huyệt thời xưa đều tập luyện khí công nội lực để truyền khí qua
huyệt mà không bị mệt và mất sức. Kết qủa 70 % trở lên.
Hình thức nhân
điện truyền vào huyệt bệnh nhân cũng thấy kết qủa hơn châm bằng kim, nhưng thầy
nhân điện bị bệnh nhân thu hết điện theo nguyên tắc bình thông nhau, nhân điện
không phải nội lực ,nên thầy có sức khỏe rồi cũng yếu dần, thầy càng chữa nhiều
người thầy càng mất sức nhiều, nếu chữa nhiều người thì khí lực của bệnh nhân và
thầy thuốc san bằng nhau, hai người đều bệnh, các bệnh nhân được chữa sau cùng
không khỏe mà còn bị bệnh của thầy thuốc truyền sang.
4- Những khám phá mới về khả năng
tiềm ẩn của huyệt :Muốn khám phá những tiềm năng bí ẩn kỳ
diệu của huyệt, chúng ta phải xem cơ thể con người là một bộ máy vi tính tuyệt
hảo mà thượng đế đã chế tạo ra, kinh mạch, huyệt đạo, âm dương, ngũ hành là con
người tìm hiểu ra, chứ nó đã có sẵn trong cơ thể giống như phần cứng ( hardware
) của một máy computeur tuyệt hảo, thượng đế cũng gài vào đó rất nhiều software
có hàng triệu triệu công dụng mà khả năng khoa học hiện đại ở thời đại chúng ta
chưa khám phá được hết những khả năng tiềm ẩn trong đó để biết cách sử dụng nó,
khoa học vẫn đang nghiên cứu không ngừng và có những hiện tượng lạ khoa học chưa
giải thích được :
1- Gần đây, nhân việc nghiên cứu hoạt động của bộ não
con người, vô tình có một điểm trên đầu của một bệnh nhân bị dòng điện với cường
độ cực nhỏ chạm phải ,bệnh nhân cho biết họ có cảm tưởng xuất hồn ra khỏi cơ thể
và nhìn thấy được thân xác mình đang được thử nghiệm. Sau tái thử nghiệm nhiều
lần đều cho kết qủa như nhau.
2- Có những đại huyệt trong cơ thể gọi là
luân xa (charkra), khi được kích thích ở một mức độ nào đó do tu tập khí công,
yoga, thiền, hay do rủi ro tai nạn té ngã chạm phải, các luân xa được khai mở sẽ
có được những thần thông như nhãn thông, nhĩ thông, tha tâm thông, để nghe được,
thấy được những thế giới khác ngoài thế giới hiện tại của con người đang
ở.
3- Trong các bài tập thở khí công để khai thông khí huyết kinh mạch
huyệt đạo đến một mức nào đó tạo ra một tần số rung đụng vào các đại huyệt (
luân xa )tự nhiên con người biến đổi già thành trẻ, tóc trắng thành tóc đen, trí
nhớ được phục hồi, kiến thức trở thành siêu việt. Thành công đầu tiên của những
người tập khí công thông tiểu chu thiên đúng mức phải đạt được kết qủa như kinh
nghiệm cổ nhân đã nói :
Vân thông khí công soi cốt tiết
Tinh bền khí đủ
dưỡng nguyên thần.
4- Trong khẩu quyết tu luyện khí công của các bậc tiên
gia đạo Lão có 9 bậc để đạt thành tiên, thì căn bản phải tập luyện Tinh-Khí-Thần
cho thân thể khỏe mạnh, gọi là sơ nhất chuyển :
Sơ nhất chuyển lo tròn
luyện kỹ
Xây đắp nền thần khí giao thông
Diệt trừ phiền não lòng
không
Thất tình lục dục tận vong đơn thành
Tâm đạo phát thanh thanh tịnh
tịnh
Dưỡng thánh thai chơn bỉnh đạo huyền
Ngày đêm cướp khí hạo
nhiên
Hiệp hòa tánh mạng hống diên giao
đầu.
..................................................
........................
Tập đến bậc thứ 5 của khí công thì đã có thể
:
Xuất thần lên cảnh thần tiên
Học thêm tâm pháp bí truyền cao
siêu.
5- Mọi phương pháp tập luyện khí công, dù là tĩnh công (phương pháp
tập thở ),hoặc động công (phương pháp vận động tay chân theo hơi thở ), cũng đều
có dụng ý tác động lên huyệt để khai thông kỳ kinh bát mạch và thông khí huyết
lục phủ ngũ tạng trong cơ thể bằng nhiều công thức phối hợp huyệt khác nhau, các
công thức này đã có từ thời xa xưa rất bí truyền, được những vị đã qua kinh
nghiệm, tập có kết qủa, truyền lại bằng những khẩu quyết rất khó hiểu đối với
những ai không am hiểu về lãnh vực đông y, và khí công. Nhưng tất cả mọi phương
pháp đều phải nhờ đến huyệt.
Như vậy HUYỆT có nhiều cách sử dụng, tùy
theo mục đích sẽ có những công thức phối hợp huyệt khác nhau, có những công thức
đã được phổ biến sẵn, tập theo thứ tự của huyệt bằng tĩnh công hay bằng động
công, có những công thức không chỉ rõ các huyệt hay cách tập ,nhưng chỉ có khẩu
quyết bí ẩn cao siêu tự chúng ta phải tìm lấy nếu chúng ta không có may mắn được
cao nhân chỉ điểm . Thí dụ cách tập thở giúp cho cơ thể sinh tinh, cách tập thở
giúp tinh hoá khí cách tập thở giúp khí hoá thần , cách tập thở thông khí bát
mạch ,thông kinh bát mạch , cách tập thở thông tiểu chu thiên, đại chu thiên,
cách tập thở theo tu chân nộI lý đồ hay cách tập thở theo KHÍ CÔNG Y ĐẠO
.
6- Phương pháp của KHÍ CÔNG Y ĐẠO tóm tắt sơ lược như sau :
KCYĐ bao
gồm phần động công để tăng cường khí, khai mở thông các huyệt kỳ kinh bát mạch,
củng cố tinh-khí-thần trên cơ sở vật chất, và phần tĩnh công giúp tăng cường nội
lực và phát triển tinh-khí-thần trên cơ sở tinh thần và tâm
linh.
Phần động công có thể tập theo thứ tự của 35 bài tập thể
dục khí công ( tập theo hướng dẫn của băng video ) sẽ giúp cho cơ thể khỏe mạnh,
bệnh tật mau khỏi ,sức khỏe mau được phục hồi.
Phần tĩnh công là cách tập
thở thiền chia làm 6 cấp bắt buộc theo thứ tự như một bài thuốc :
Cấp một :
Tập đóng mở Thiên môn.
Chia hai giai
đoạn:
Giai đoạn một : Tập điều hoà theo nhịp thở sinh học 5-5,(
hít vào đếm thầm 5 tiếng 1,2,3,4,5, thở ra đếm thầm 5 tiếng )
.
Giai đoạn hai : Tập thở nhịp 5-5-5.(hít vào đếm 5 tiếng,
ngưng giữ hơi thở đếm 5 tiếng thở ra đếm 5 tiếng ).Khoảng thời gian đếm 5 tiếng
lúc mới tập trung bình 3 giây đồng hồ, tập thời gian lâu, hơi thở sẽ đều và chậm
hơn, trung bình là 4 giây, sau khá hơn nữa theo tiêu chuẩn của bài tập là 5
giây, nếu thở nhịp sinh học 5-5 thì một phút thở được 6 hơi thở, tuổI thọ sẽ
tăng .( Trung bình một người khỏe mạnh không bệnh tật, thở 18 hơi trong một
phút, tuổI thọ trung bình 100 năm, con rùa thở 2 hơi trong một phút, tuổi thọ
trung bình 300 năm.).Để tinh thần được thư giãn, thở tự nhiên, bộ mặt không căng
thẳng và để đếm thời gian không bị lầm lẫn, miệng thầm đọc từng chữ theo câu sau
đây :
‘Thở, vào, tâm, tĩnh, lặng.’. trong khi đang hít vào từ từ, chậm, nhẹ,
sâu, lâu,đều.
‘Thở, ra, miệng, mỉm, cười.’. .trong khi đang thở ra từ từ bằng
mũi.
Cấp hai : Tích nạp nội lực và phóng năng lượng.
Chia ba giai
đoạn: Giai đoạn một Xả trược, nhịp thở 5-5-5; Giai đoạn hai nạp năng lượng, nhịp
thở 5-5-5; Giai đoạn ba phóng năng lượng, nhịp thở 5-5-5.
Cấp ba : Thông
Tiểu chu thiên.
Chia hai giai đoạn: Giai đoạn một Thối âm thăng dương, nhịp
thở 5-5.
Giai đoạn hai Vận khí thông quan hay thăng âm thối dương, thở nhịp
5-5-5 .
Cấp bốn : Vận hành xoay chuyển luân xa, nhịp thở 5-5-5.
Chia
làm hai giai đoạn: Giai đoạn một thăng dương. Giai đoạn hai thối âm.
Cấp
năm :Bảo toàn năng lượng.
Nhịp thở 5-5-5.Giai đoạn chiết hỏa điền ly hay là
giai đoạn ‘ chiết hỏa thiếu khôn thu vạn linh.’
Cấp sáu : Khai mở hỏa
xà.
Cấp cao nhất, tập luyện không có cao nhân chỉ dẫn đúng dễ bị tẩu hỏa nhập
ma, sẽ được hướng dẫn trực tiếp trong lớp học, nên không trình bầy nơi đây, tuy
nhiên nếu chúng ta tò mò muốn biết công phu tập luyện, thời gian tập luyện lâu
hay mau và kết qủa ra sao, chúng ta hãy đọc qua lời chỉ dẫn bí ẩn cao siêu sau
đây được truyền khẩu chứ không viết thành văn bằng chữ hán :
Nhất, nhị,
tam tài, ngũ, lục kinh.
Đại cư tiểu thử định thành hình
Hàn duy mãn tứ
thành cơ động
Chiết hỏa thiếu khôn thu vạn linh
Mộc thái càn giao hòa tứ
tượng
Âm dương thượng hạ hiệp chung minh
Phong xuân phấn lý sanh ư
biến
Toàn chất tinh ba tịnh thủy bình.
Mong nhờ qúy vị học giả nào ưa
thích tìm hiểu về khí công có thể giải thích rộng thêm nghĩa ngữ và ý văn để
giúp cho qúy vị đọc giả biết được những sự kỳ diệu khi đem khí công vào lãnh vực
chữa bệnh, tác giả xin chân thành cảm ơn và sẵn sàng vui lòng tiếp nhận sự chỉ
giáo của qúy vị.
5- Quan niệm mới về cấu trúc huyệt
:Huyệt có khả năng thu nhận, dẫn truyền sóng rung ,bức xạ,
âm thanh, từ trường, điện từ trường, các tia sáng, tia ion, hồng ngoại, tử ngoại
,tia gamma, alpha, béta,..Như vậy huyệt vừa là những con chip thuộc cấu trúc
phần cứng của một máy điện toán, nhìn thấy được, nhưng huyệt làm ra được nhiều
chức năng thuộc phần mềm được ghi trên desktop trong đó có nhiều chương trình
hoạt động khác nhau, muốn khai thác sử dụng nó phải tùy vào trình độ hiểu biết
của người sử dụng. Cho đến ngày nay, con người vẫn còn tìm hiểu, khám phá, bổ
sung những khả năng kỳ diệu vô tận của máy điện toán, cũng như khả năng vô tận
của cách phối hợp huyệt qua cách truyền khí công. Điều quan trọng là chúng ta
thực sự có năng lượng hay không. ( tập võ thuật khác với tập nạp năng lượng,
người có năng lượng không cần phải biết võ thuật, ngườI biết võ thuật chưa hẳn
là người có năng lượng để chữa bệnh cho người khác ).
Nếu huyệt được hiểu
theo cấu trúc máy điện toán, thì xương cốt, da thịt, tạng phủ, những cái thấy
được là phần cứng, hệ thống kinh mạch huyệt đạo thuộc phần huyết nằm trên phần
cứng, là đường kinh vật chất định hình, là những đường dây điện và những con
chip, còn kinh mạch huyệt đạo thuộc phần khí nằm trên phần mềm ký gửi ở đĩa C,
là đường kinh vật chất vô định hình và là bộ óc của máy điện toán giống như bộ
óc con người.
Nhờ quan niệm mới về cấu trúc huyệt, thì ngoài những thảo
chương cho bộ máy con người là hệ thống âm dương ngũ hành và kinh mạch tạng phủ
dùng trong chữa bệnh của đông y, còn có thảo chương khác cũng tác động vào đại
huyệt để tập yoga tăng cường sức khỏe, có thảo chương khác để mở các luân xa,
thảo chương phát triển thu phát sóng nghe được âm thanh của người ở xa hay của
thế giới khác, hoặc phát triển được khả năng nhìn xa, nhìn qua vật cản, nhìn
thấy chữ viết trong bao thư dán kín, khả năng phóng những bức xạ hoặc sóng rung
để chữa bệnh tầm xa.. những khả năng thần thông như thế cũng đã thành sự thật
,đều do khả năng kỳ diệu của huyệt làm ra.
HUYỆT ở một vị trí nhất định
trên cùng một đìểm của đường kinh, nhưng tùy theo trình độ của thầy chữa bệnh,
sẽ tạo phản ứng cho những kết qủa khác nhau, vì huyệt có những tính chất sau đây
:
1- Huyệt là điểm nhạy cảm có sẵn trên cơ thể con người và có khả năng
thu phát dẫn truyền đa dạng :
- Có thể theo khả năng cơ học thuộc kinh mạch
huyệt đạo của đông y châm cứu, khả năng chữa bệnh tùy theo thầy thuốc áp dụng
đơn huyệt hay phối hợp huyệt.
-Có khả năng tạo bức xạ nhiệt trực tiếp được
chỉ huy bởi bộ óc thí dụ như do tập thiền, tập khí công, tập yoga ( ý ở đâu, khí
ở đó, khí ở đâu thì huyết ở đó, khi huyết chạy nhanh và mạnh, sự ma xát va chạm
các phân tử ion tạo ra năng lượng nhiệt đến theo ).
-Có thể tạo bức xạ hàn
gián tiếp, nghĩ đến một huyệt ,huyệt truyền tải tín hiệu lên óc chuyển đổi khí
thành hàn làm cho cơ thể đang nóng thành lạnh.
-Có thể nhận bức xạ nhiệt được
truyền từ ngoài vào như hơ cứu huyệt, hay nhận bức xạ nhiệt từ bàn tay của người
có khí công, yoga áp đặt vào trực tiếp, hay được phóng từ xa có thể rất xa từ
địa phương này đến địa phương khác.
-Có thể nhận bức xạ nhiệt hay hàn được
truyền từ bàn tay của người có khí công, có khả năng phóng tia hồng quang tạo
bức xạ nhiệt hoặc tia bạch quang tạo bức xạ hàn để chữa bệnh hàn nhiệt trong cơ
thể. Huyệt cũng có tính chất thẩm thấu khí hậu, thờI tiết, môi trường chung
quanh vào các lỗ chân lông và thấm qua các huyệt bảo vệ cơ thể như huyệt Phong
môn, Phong trì, Phế du. Nếu chân khí mạnh, các huyệt này sẽ phong tỏa không cho
tà khí xâm nhập sâu vào cơ thể, sau đó tà khí được hóa giải, nếu chân khí suy
yếu, tà khí sẽ thấm sâu vào cơ thể làm ra bệnh.
2- Huyệt nằm trên đường
kinh là cơ sở vật chất thấy được là những sợi thần kinh, gân máu, ống máu..gọi
là đường kinh vật chất định hình ,nhưng cũng có khả năng truyền theo đường khí
chạy ngoài kin, khoa học không nhìn thấy được nhưng đo được ,chúng ta gọi là
đường kinh vật chất vô định hình .( cũng giống như những loại khí ô nhiễm trong
không khí, không nhìn thấy được, nhưng chúng ta có thể đo đếm được có bao nhiêu
thành phần ion, thành phần phóng xạ, thành phần hồng ngoại, tử ngoại, oxy,
carbone..chứa trong 1 lít không khí ).
3- Đường đi của khí qua huyệt trên
một đường kinh có thể thuận chiều (bổ ), có thể nghịch chiều (tả ), có thể đi
vào (liễm), có thể đi ra (xuất), có thể đi lên (thăng), có thể đi xuống (giáng),
có thể nối một chiều sang kinh khác qua huyệt lạc, có thể nối hai chiều hay
nhiều chiều qua huyệt giao hội, có thể tập trung chỉ huy kiểm soát một chức năng
hay một bộ phận chuyên môn ( bát hội huyệt)..và đặc biệt huyệt có khả năng chế
biến tạo ra nhiều loại thuốc mới rất kỳ diệu không ngờ do cách nối huyệt thành
hợp huyệt, và cùng một hợp huyệt giống nhau tác động lên đường kinh vật chất
định hình sẽ cho ra một loại thuốc chữa bệnh hoàn toàn khác với loại thuốc được
truyền khí trên đường kinh vật chất vô định hình.
4- Ngoài đường đi của
huyệt trên 12 chính kinh, mỗi kinh còn có một huyệt đại diện cho khí hoặc huyết
của kinh đó trực thuộc vào sự điều động của kinh tam tiêu bên tay trái thuộc
huyết, bên tay phải thuộc khí, còn các huyệt trên kinh tam tiêu lại rất ít,
nhưng khi điều chỉnh đến nó là đã điều chỉnh nguyên huyệt của các chính kinh.
Cho nên kinh tam tiêu rất quan trọng trong phương pháp chữa bệnh bằng khí
công.
5- Huyệt trên kinh vật chất định hình không có những đường đi đặc
biệt rút ngắn, muốn đi từ kinh này sang kinh khác chỉ có qua huyệt lạc hoặc qua
tĩnh huyệt nơi giao điểm của cuối kinh này đầu kinh kia mà thôi, nhưng trên kinh
vật chất vô định hình truyền bằng khí công thì có đoạn liên hợp để truyền khí từ
kinh dương sang kinh âm hoặc ngược lại, để truyền khí từ trong ra ngoài như muốn
giải độc cơ thể,hoặc từ ngoài vào trong như muốn phục hồi chân khí bị
mất.
6- Hợp huyệt được truyền khí trên đường kinh vật chất vô định hình
còn tùy vào khả năng phóng năng lượng của người truyền, kỹ thuật truyền,và cách
phối hợp huyệt để truyền với mục đích gì, lúc đó một mặt năng lượng đi thẳng vào
nơi tích lũy chân khí của bệnh nhân, rồi từ hệ thống kinh mạch ngũ hành sẽ điều
chỉnh, phân phối một cách tự động theo nhu cầu, mặt khác năng lượng trong chân
khí được phân phối theo con đường phối hợp của huyệt mà người truyền khí đã
nghiên cứu sáng tạo ra, cách chữa này trong khoa đông y châm cứu không áp dụng
vì không có khả năng truyền khí như khí công.
6- Những khám phá cách chữa bệnh mới bằng
khí công Tuy gọi là mớI đối với ngày nay, nhưng
phương pháp này đã từng được sử dụng và tập luyện trong khí công của các tiên
gia đạo Lão, vào thời đó không có ai giải thích thắc mắc tại sao phải tập như
vậy, phải làm như vậy, mà chỉ thực hành, truyền từ người này đến người khác, đời
này đến đời khác rồi bị chế biến thêm bớt thành thất trưyền. Giống như ở thời
đại địện toán của chúng ta, người có công nghiên cứu chế tạo rồi lập ra thảo
chương và dạy cho chúng ta biết cách sử dụng, không cần giải thích, vì giải
thích là dạy ra cách chế biến phải là người có trình độ tương đương mới hiểu
được, cho nên chỉ cần phổ biến cho người khác biết sử dụng là đủ, rồi cứ thế
người ta truyền dạy cách sử dụng từ người này đến người khác.
Cũng như
thế, qua qúa trình sử dụng huyệt trên mọI lãnh vực như chữa bệnh, khai mở luân
xa, tập khí công, thiền, yoga, võ thuật.. mục đich duy trì bảo vệ sức khỏe, tuổi
thọ của thân thể vật chất, còn phát triển về tinh thần và tâm linh đến chỗ cao
siêu hơn.
Vì thế cách sử dụng huyệt để chữa bệnh theo khí công đã khám ra
quy luật chữa bệnh riêng của nó để giải thích tại sao hiệu qủa chữa bệnh của nó
nhanh hơn các phương pháp chữa bệnh thông thường khác mà chúng ta đã
biết.
1. Quy luật BIẾN HÓA âm dương:
Khí căn bản trong con người là
nguyên khí hay chân khí tiên thiên phát sinh từ thận, sự hoạt động khí hóa trong
con người phát sinh từ chân khí gồm thận âm thận dương mang lưỡng tính âm dương
phân phối vào ngũ tạng biến thành khí ngũ hành giúp tạng phủ hoạt động. Khí nuôi
dưỡng con người là cốc khí từ thực phẩm, lại nhờ tạng phủ biến đổi thành ngũ khí
âm đi từ tạng theo lạc mạch tam tiêu ra kinh âm ,khi đó các huyệt âm trên kinh
âm thu rút âm chất để hóa dương tạo ra ngũ khí dương theo lạc huyệt sang kinh
dương, khi đó các huyệt trên kinh dương thu rút dương chất, khí chất để hóa âm
nuôi âm tạo ra huyết rồi vào phủ qua mạch tam tiêu vào tạng, rồi từ tạng lại
truyền khí đi tiếp thành chu trình khép kín. (Hình vẽ biểu tượng là âm-dương và
tứ tượng, trong âm có dương, trong dương có âm, được áp dụng tuyệt đối trong tập
luyện khí công và trong chữa bệnh ).
Khí âm dương của tạng phủ chuyển hóa
thức ăn tạo ra chân khí hậu thiên nạp tại thận, tạo ra vinh khí để nuôi dưỡng
phát triển cơ thể và tạo ra vệ khí để bảo vệ cơ thể.
Phần chuyển hóa cốc
khí ra khí âm dương là giai đoạn chuyển tinh hóa khí giai đoạn một ,mặt khác
chân khí ( tiên thiên và hậu thiên )còn truyền theo Mạch Nhâm Đốc kiểm soát điều
hành âm dương khí của tạng phủ và thu rút phần tinh hoa của khí huyết để chuyển
thành tinh ( khoảng 40 gram máu mới tạo được 1 gram tinh ) rồi từ tinh hóa tủy (
khoảng 40 gram tinh hóa thành 1 gram tủy ) chia làm hai phần đi lên não, phần
tinh hoa của huyết là phần vật chất thấy được tạo thành tủy sống ,chất nhão của
óc, phần tinh hoa còn lại của tinh biến thành khí là giai đoạn chuyển tinh hóa
khí giai đoạn hai không thấy được ,sẽ tăng cường chức năng hoạt động và phát
trIển thần kinh theo thần đoạn lên não nuôi dưỡng phát triển não và củng cố thần
kinh gọi tắt là giai đoạn chuyển khí hóa thần .
2. Quy luật KHÍ
HUYẾT:
Bệnh taị huyết thì chữa khí trong huyết (dương trong âm ), bệnh tại
khí thì chữa huyết trong khí ( âm trong dương ). Bệnh thuộc chức năng thuộc khí
( dương trong dương ), bệnh thuộc cơ sở thuộc huyết ( âm trong âm ) .Có khí nằm
trong huyết là vệ khí ( dương trong âm ), có huyết nằm trong khí là vinh khí (
âm trong dương ).
Thí dụ trong huyết có khí :
Huyết giống như mỏ dầu
thô là vật chất hỗn tạp chưa sử dụng được, nếu có nhà máy lọc dầu sẽ phân tách
được nó ra làm nhiều loại có công dụng khác nhau,( nhà máy lọc tượng trưng cho
khí chế biến huyết ),phần cao cấp nhất lấy từ dầu thô bây giờ là khí acétone,
éther.. khi huyết được khí chế biến sẽ thành những sản phẩm như xương cốt, da
thịt, gân, móng, râu, tóc.. là phần vật chất, phần tinh hoa của huyết là chất
huyết thấy được gồm chất tủy, chất não, phần không thấy được gọi là khí trong
huyết phân làm hai loại, loại không thấy nhưng đo đếm được số lượng hồng cầu,
bạch cầu, huyết thanh, huyết bản, tế bào máu, phần không đo đếm được nhưng người
ta chỉ cảm nhận được, biến thành năng lượng khí vô định hình giúp cơ thể khỏe
mạnh.
Thí dụ trong khí có huyết :
Khí ở trong cơ thể do bẩm sinh có ở
trong mỗi con người gọi là chân khí tiên thiên hay nguyên khí, khí thứ hai do
hơi thở được luyện tập cho có nhiều hơi trong phổi hơn những người bình thường
khác, cho dung tích phổi chứa tối đa gọi là tông khí , khí hoạt động trong cơ
thể một cách tự nhiên như hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục là khí
lục phủ ngũ tạng. Còn khí để nuôi dưỡng và phát triển cơ thể là do cốc khí biến
từ thức ăn uống, được bao tử chuyển hóa mà thành gọi là vinh khí và vệ khí. Như
vậy khí của bao tử chuyển hóa thức ăn thành dưỡng trấp là loại huyết thô như dầu
thô, cơ thể con người là nhà máy lọc dầu, dùng khí của hơi thở, dùng khí của ngũ
hành lục phủ ngũ tạng, mới biến dưỡng trấp thành huyết.Từ huyết lại biến thành
vinh khí nuôi dưỡng phát triển cơ thể, biến thành vệ khí bảo vệ cơ thể thay tế
bào cũ đổi tế bào mới, tinh hoa của khí huyết dư biến thành năng lượng gọi là
chân khí hậu thiên dự trữ vào kho chân khí ( tiên thiên và hậu thiên ), nạp vào
thận khí theo cột sống đi theo Nhâm Đốc mạch bảo trì và phát triển bộ não là khí
hóa thần.
3.Quy luật PHÂN TIẾT ĐOẠN TRÊN KINH
Ngoài 12
kinh và tạng phủ tuân theo quy luật ngũ hành để sử dụng phương pháp bổ hay tả
khi cần thiết như đông y châm cứu, nhưng khi bổ tả theo khí công là bổ tả theo
tiết đoạn nối liền giữa hai huyệt, mỗi đường kinh vật chất vô định hình được
chia làm nhiều đoạn đặc biệt để truyền khí khác nhau, tùy theo mục đích và công
dụng, nên có những điểm nối khác nhau tạo ra những tiết đoạn có công dụng khác
nhau :
a-Tiết đoạn đặc trưng của Mạch Nhâm-Đốc và 12 kinh : dùng để chỉnh
cơ năng hoạt động của đường kinh.
b-Tiết đoạn chức năng của Mạch Nhâm-Đốc và
12 kinh : dùng để tăng thêm khí đẩy mạnh sự hoạt động của đường kinh.
c-Tiết
đoạn ngũ hành của 12 kinh : dùng để quân bình sự hoạt động của các khí trong
đường kinh.
d-Tiết đoạn liên hợp của Nhâm-Đốc và 12 kinh : dùng để điều chỉnh
khí của các đường kinh có liên quan được nối huyệt từ đường kinh này sang kinh
khác qua lạc huyệt.
e-Tiết đoạn thần đoạn : là đoạn kinh dương
chạy lên vùng đầu có ảnh hưởng trực tiếp ở vùng đầu tác động thẳng vào hệ thần
kinh trung ưöng để giúp chân dương khí hóa thần.
4.Quy luật BIỂU-LÝ TẠO
VÒNG KHÍ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH:
Khi hai kinh mạch và tạng phủ cùng một hành được
nối với nhau sẽ tạo ra một vòng khí đặc biệt :
a-VÒNG HỎA TÂM KHÍ : Chủ
mạch của khí và huyết. Tạng Tâm và phủ Tiểu trường nối thành vòng hoạt động của
hỏa tâm khí ( dương trong âm )bắt đầu phát xuất từ tim theo mạch ra huyệt khởi
Cực Tuyền vào đường kinh biến âm trưởng dương tiêu ra đến bàn tay thành thuần
âm. Từ lạc huyệt Thông Lý ,tâm khí qua huyệt Chi Chánh sang Kinh Tiểu trường lại
biến âm thành dương trưởng âm tiêu vào huyệt nhập Thiên Tông, chia hai phần,
phần âm huyết về nuôi dưỡng Tim và Tiểu trường, phần dương khí theo thần đoạn
của Kinh Tiểu trường lên mặt để hóa thần .
b-VÒNG NHIỆT TÂM KHÍ : Do chân
hỏa từ tâm sinh ra đưa vào màng tâm bào, nối với phủ tam tiêu tạo ra vòng nhiệt
tâm khí ra huyệt khởi Thiên Trì của Kinh Tâm bào, dương nhiệt tâm khí biến dương
trưởng âm tiêu ra tay thành thuần âm. Từ lạc huyệt Nội Quan nhiệt tâm khí qua
lạc huyệt Ngoại Quan vào Kinh Tam tiêu biến âm nhiệt dương khí thành dương
trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Thiên Dũ thì âm phần về nuôi tạng Tâm bào và phủ
Tam tiêu, còn dương phần theo thần đoạn của Kinh Tam tiêu lên mặt để hóa
thần.
c-VÒNG CAN KHÍ : Do chân khí vào tạng can sinh ra. Tạng Can và phủ
Đởm nối nhau hoạt động thành vòng can khí ra huyệt khởi Kỳ Môn của kinh can
,dương can khí biến âm trưởng dương tiêu chạy xuống đến lòng bàn chân thành
thuần âm, qua lạc huyệt Lãi Câu vào lạc huyệt Quang Minh của kinh Đởm thì âm can
khí biến dương trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Kiên Tĩnh thì âm phần theo mạch lạc
về nuôi phủ tạng, dương phần theo thần đoạn kinh đởm lên mặt để hóa
thần.
d-VÒNG TỲ KHÍ : Do chân khí vào tạng Tỳ sinh ra. Tạng Tỳ và phủ Vị
nối nhau hoạt động thành vòng Tỳ khí ra huyệt khởi Đại Bao vào Tỳ kinh biến âm
trưởng dương tiêu xuống chân thành thuần âm, qua lạc huyệt Công Tôn sang lạc
huyệt Phong Long của kinh Vị, biến dương trưởng âm tiêu đến huyệt nhập Khuyết
Bồn thì âm phần của tỳ khí về nuôi tạng phủ, còn dương phần theo thần đoạn kinh
Vị lên mặt để hóa thần.
e-VÒNG PHẾ KHÍ : Do chân khí đi vào tạng phế sinh
ra. Tạng Phế và phủ Đại Trường hoạt động thành vòng phế khí theo mạch lạc ra
huyệt khởI Trung Phủ của kinh phế biến dương phế khí âm trưởng dương tiêu chạy
ra đến lòng bàn tay thành thuần âm qua lạc huyệt Liệt Khuyết sang lạc huyệt
Thiên Lịch của kinh Đại trường biến âm tiêu dương trưởng vào huyệt nhập Thiên
Đỉnh chia hai phần, âm phần của phế khí về nuôi tạng phủ, dương phần theo thần
đoạn của kinh Đại trường lên mặt hóa thần.
f-VÒNG THẬN KHÍ : Do chân khí
đi vào tạng thận sinh ra. Tạng Thận và phủ Bàng Quang hoạt động thành vòng Thận
Khí theo lạc mạch ra đi thành hai vòng :
Vòng trên đưa thủy âm hóa khí ra
huyệt Thận Du lên huyệt Tình Minh hóa thần, theo lạc mạch về huyệt Du Phủ vào
kinh thận giao hòa với tâm hỏa ở huyệt Thần tàng, qua lạc Khí Huyệt về tạng thận
theo mạch lạc sang bàng quang.
Vòng dưới là vòng biến hóa âm dương thận khí,
từ thận ra huyệt Khí Huyệt là thận khí dương biến âm trưởng dương tiêu chạy
xuống lòng bàn chân thành thuần âm qua lạc huyệt Đại Chung trên kinh thận sang
lạc huyệt Phi Dương biến âm thận khí âm tiêu dương trưởng về Thận Du chia hai
phần, âm phần vào trong về nuôi tạng phủ, dương phần theo đường thần kinh giao
cảm trên đường bối du nhập với vòng trên lên đầu để hóa thần.
g-VÒNG CHÂN
KHÍ : Là vòng nguyên khí lưỡng tính âm dương do bẩm sinh cha mẹ truyền cho gọi
là chân khí tiên thiên. Chân khí tiên thiên do tinh cha huyết mẹ tạo thành (
tinh trùng, noãn sào, gène )và lệ thuộc vào yếu tố nuôi dưỡng trong bào thai về
tinh thần và vật chất của cha mẹ, nếu tinh thần vật chất của cha mẹ lúc mang
thai ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng, tinh thần vui vẻ yêu đời thì chân khí tiên
thiên của mình mới hoạt động khí hóa tốt , thần kinh của mình mới hoạch định
chương trình hoạt động khí hóa ngũ hành mạnh hay yếu để tạo ra số phần trăm hấp
thụ dinh dưỡng sau này để phát triển cơ thể. Thức ăn nuôi dưỡng cơ thể thành khí
huyết gọi là chân khí hậu thiên đi theo sự biến đổi âm dương của các vòng khí
tâm, can, tỳ, phế, thận chuyển thành âm phần về nuôi dưỡng tạng phủ, âm phần ở
thận tạo ra tinh,được tuyến thượng thận biến tinh hóa khí. Nếu chân khí tiên
thiên mạnh sẽ hấp thụ cốc khí chuyển hóa theo ngũ hành tạng phủ thành chân khí
hậu thiên từ 10-50%, thí dụ hai đứa trẻ sanh cùng ngày tại bệnh viện và được
nuôi dưỡng ăn uống đúng tiêu chuẩn giống nhau một thời gian hai năm, nhưng sự
phát triển cơ thể của hai đứa sẽ khác nhau nếu chân khí tiên thiên của hai đứa
trong hai hoàn cảnh vật chất và tinh thần của cha mẹ sung sướng và khổ sở khác
nhau, đứa lớn hơn, thông minh, khỏe mạnh hơn do hoạt động của chân khí tiên
thiên tăng số phần trăm hoạt động và hấp thụ nhiều hơn so với đứa kia chân khí
tiên thiên kém hơn.
Cách hoạt động của vòng chân khí như sau
:
Vòng hoạt động chân khí chia hai vòng :
Vòng chính : Chân khí tiên thiên
vào phủ tạng giúp ngũ tạng hoạt động khí hóa gọi là ngũ tạng khí. Dương chân khí
hậu thiên phát ra ở huyệt Mệnh Môn theo Mạch Đốc lên đầu qua thần đọan để khí
hóa thần ,qua huyệt Ngân Giao biến dương khí thành âm khí vào Mạch Nhâm xuống
đan điền nạp âm chân khí vào Khí hải.
Vòng phụ: Âm khí từ Khí hải theo mạch
Nhâm xuống huyệt Hội âm là thuần âm sang Trường Cường biến âm thành dương theo
Mạch Đốc lên điểm xuất phát Mệnh Môn nhập vào vòng chính.
Như vậy nguyên khí
(chân khí tiên thiên) cùng với Mạch Nhâm-Đốc hoạt động thành vòng chân khí. Chân
khí dư thừa của hậu thiên sẽ từ từ bổ sung cho chân khí tiên thiên làm tăng phần
trăm tính hoạt động và hấp thụ dinh dưỡng bằng cách cơ thể phải năng hoạt động
như tập thể dục hoặc võ thuật để cơ thể phát triển. Người mập mà sức khỏe yếu là
dinh dưỡng dư thừa không chuyển thành chân khí hậu thiên, chân khí chính là sức
khỏe bền bỉ của một người , mặc dù có thiếu ăn so với người khác nhưng sự chuyển
hóa chân khí mạnh hơn người khác .
5-QUY LUẬT LIÊN KẾT KHÍ CỦA KỲ KINH
BÁT MẠCH :
a-Vòng liên kết âm dương Nhâm-Đốc. (theo vòng Tiểu chu
thiên).
b-Vòng liên kết ngang dọc Xung-Đới .theo chiều khí đi ngang và dọc
nối Mạch Xung (gồm chân khí , ngũ khí nối liền Nhâm-Đốc,Vị-Đởm,Thận và Mạch Đới
liên kết khí hàn nhiệt của 6 kinh âm dương ở chân với Nhâm Đốc ).
c--Vòng
liên kết trước sau của âm dương duy : Nối 6 kinh dương với Mạch Đốc giúp dương
trưởng âm tiêu và nối 6 kinh âm với mạch Nhâm giúp dương tiêu âm
trưởng.
d-Vòng liên kết trên dưới của âm dương kiều : Nối 6 kinh âm ở chân
với Mạch Nhâm và 6 kinh dương ở chân với Mạch Đốc để chỉnh tâm thần
kinh.
6.QUY LUẬT BIỂU-LÝ TRONG CHỮA BỆNH
Bệnh còn ở biểu thuộc khí,
chỉ chữa kinh dương vệ khí thuộc kinh phế và kinh bàng quang. Không được chữa
vào kinh âm làm cho bệnh nhập lý, vô tình dẫn tà khí vào sâu trong tạng phủ làm
cho bệnh nặng thêm. Nếu có ai cho rằng bệnh gì cũng thông 12 kinh trước khi chữa
trong khi chưa biết bệnh do nguyên nhân nào theo bát cương, vô tình đem bệnh
truyền từ biểu vào lý nhanh hơn sẽ làm hại các đường kinh chưa bị bệnh.
Bệnh
ở lý thì chia theo khu vực tam tiêu, tà khí còn ở thượng tiêu thì cho xuất .ở
trung tiêu cho hòa, ở hạ tiêu cho hạ, cô lập vùng để chữa không cho thông tam
tiêu khiến cả ba vùng bị bệnh.
7.QUY LUẬT TRUYỀN KHÍ :
Mỗi đường kinh
có hai khả năng nhận khí vì HUYỆT có tính dẫn truyền đa dạng :
a-Đường
kinh là những sợi thần kinh, những mạch máu nhỏ chạy dưới da, trong thịt, trên
gân, trên xương, nơi khe xương nối nhiều huyệt trên cùng một đường dẫn truyền mà
chúng ta thấy được là đường kinh vật chất định hình .Nếu chúng ta bấm huyệt mà
không có nội lực thì chỉ kích thích vào chức năng hoạt động của huyệt trên đường
kinh có tính chất cơ học dẫn truyền chứ không phải truyền khí .
b-Cũng
trên đường kinh ấy, nếu chúng ta có nội lực truyền khí thì khí được truyền theo
cả hai đường, đường truyền theo cơ học dẫn truyền trên kinh vật chất định hình
và đường truyền nội lực trên đường kinh vật chất vô định hình vào thẳng chân khí
sau đó chân khí mới truyền qua ngũ hành tạng phủ để chữa bệnh. Do đó người có
khả năng truyền nội lực bằng đường kinh vật chất vô định hình sẽ tăng cường thêm
chân khí cho bệnh nhân mạnh hơn liều thuốc bổ, kết qủa sắc mặt bệnh nhân hồng
hào ngay sau khi được truyền, còn người truyền nội lực không bị hao tổn mất chân
khí , không mệt mỏi.
Nếu một người không có nội lực, cũng bắt chước truyền
nội lực, vô tình truyền chân khí của mình sang cho bệnh nhân, bệnh nhân cũng
được tăng lên chút đỉnh do thầy vận dụng công phu nội công đẩy vào, sau đó chân
khí của thầy bị hao tổn mất, bộ mặt thầy trở nên trắng xanh và mệt
mỏi.
c-Tùy theo cách truyền khí trên loại kinh nào , như 12 chính kinh, 8
kỳ kinh bát mạch:
-Đối với 12 chính kinh, mỗi đường kinh đều có ba đoạn
truyền kinh có công dụng khác nhau gọi là tiết đoạn đặc trưng, tiết đoạn chức
năng, tiết đoạn ngũ hành. Ngoài ra trên những kinh dương chạy lên đầu còn có
tiết đoạn đặc biệt gọi là thần đoạn, ảnh hưởng chỉnh trực tiếp thần kinh của não
bộ .
-Đối với Kỳ kinh bát mạch, mượn các huyệt nằm trên 12
chính kinh, nhưng được nối với nhau từ kinh này sang kinh khác bằng một công
thức riêng để thành một mạch riêng gọi là kỳ kinh bát mạch, nếu không có nội
lực, khi truyền sẽ không có tác dụng gì, ngược lại nếu có nội lực mà không biết
mục đích và quy luật truyền sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân.
8-QUY LUẬT
TĂNG GIẢM HỎA 12 KINH :
Dùng khí công vuốt trên hỏa đoạn của kinh khi cần
thiết để tăng hỏa theo chiều thuận của đường kinh hay để giảm hỏa theo chiều
nghịch của đường kinh, nó có công dụng làm nóng khí trên kinh dương hay làm ấm
huyết trên kinh âm để chữa những bệnh đau nhức do hàn; hoặc làm bớt nhiệt của
khí trên kinh dương hay làm mát huyết trên kinh âm để chữa những bệnh đau nhức
co rút do nhiệt hay nóng sốt.
Khi sử dụng hỏa đoạn với mục đích chữa bệnh hàn
hoặc bệnh nhiệt phải lưu ý xem đoạn ấy có trùng với đoạn tả ,đoạn bổ hay đoạn
đặc trưng (để làm thông kinh) theo tiết đoạn ngũ hành của đường kinh hay không
để tránh tình trạng phạm ngũ hành, thực làm thêm thực, hư làm thêm hư. Hỏa đoạn
phần nhiều dùng để chữa chung với tiết đoạn bổ hoặc tiết đoạn tả cuả 12 kinh
trong các bệnh hư hàn, hư nhiệt, thực hàn, thực nhiệt rất có hiệu
qủa.
9-QUY Luật tự phá vỡ quân bình rồi tái lập lại quân
bình :
Chữa bệnh bằng khí công là chủ động tự làm mất quân bình sự khí hóa
tức thời để cơ thể phát lộ ra bệnh rõ hơn, rồi tái lập lại quân bình về âm,
dương, khí ,huyết. Nhưng phá vỡ quân bình ở âm, ở dương, ở khí, ở huyết, ở thần
kinh hay ở kinh ngũ hành nào với mục đích nào, còn lệ thuộc vào kiến thức kinh
nghiệm của thầy thuốc trị bệnh bằng khí công truyền nội lực, nếu không hiểu quy
luật đối chứng trị liệu lâm sàng thì không nên làm sẽ có hại cho bệnh
nhân.
10-QUY LUẬT vận ngũ hành trên kinh mạch ĐỂ CHỮA
BỆNH
Muốn vận ngũ hành phải có khí công nội lực mới có hiệu qủa
trong chữa bệnh. Có 3 cách áp dụng trên ba loại kinh khác nhau sẽ tạo ra nhiều
cách phối hợp huyệt đặc biệt để phát huy sự kỳ diệu của huyệt trong việc chữa
bệnh có kết qủa nhanh chóng không ngờ so với các công thức phối hợp huyệt cổ
điển từ trước đến nay.
I- Áp dụng bối du huyệt trên kinh Bàng quang
:
A-PHƯƠNG PHÁP HỎA VẬN như Hỏa âm nhập thổ âm để điều hòa âm trong dương
của tâm-tỳ âm.Hỏa dương nhập thổ dương là dương trong dương để điều hòa tâm-tỳ
dương. Tương tự, cách phối hợp Hỏa nhập kim âm, dương. Hỏa nhập thủy âm, dương.
Hỏa nhập mộc âm, dương. Mỗi cách chữa mỗi bệnh nan y khác nhau.
B-PHƯƠNG PHÁP
NHIỆT VẬN : Áp dụng trong phép ôn và hãn ( làm ấm và làm xuất mồ hôi ) như Nhiệt
nhập thổ,nhập kim,nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa âm, dương.
C-PHƯƠNG PHÁP THỔ
VẬN : Như Thổ nhập kim, nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa âm dương.
D.PHƯƠNG PHÁP
KIM VẬN :Như Kim nhập thủy, nhập mộc, nhập hỏa, nhập thổ âm, dương.
E.PHƯƠNG
PHÁP THỦY VẬN : Như Thủy nhập mộc, nhập hỏa, nhập thổ, nhập kim âm,
dương.
F.PHƯƠNG PHÁP MộC VẬN : Như Mộc nhập hỏa, nhập thổ, nhập kim, nhập
thủy âm, dương.( mộc nhập hỏa dùng để cho xuất mồ hôi ).
II- Áp dụng trên
Kỳ Kinh Bát Mạch :
Mạch Nhâm : cũng có Hỏa vận, Nhiệt vận, Thổ vận, Kim vận,
Thủy vận, Mộc vận.
Ngoài ra còn có Mạch Âm Dương duy, Âm Dương
kiều cũng áp dụng vận ngũ hành.
7- Công dụng của khí công chữa
bệnh:Như vậy tập khí công là cách tự mình thông huyệt chữa
bệnh cho mình bằng các bài tập thể dục động công, động tác theo hơi thở chậm,
nhẹ, sâu ,lâu, đều, và các bài tập thở tĩnh công để nạp năng lượng tăng nội lực,
và bền chí tập luyện từ ngày này sang ngày khác chắc chắn sẽ có kết qủa tốt, cơ
thể khỏe mạnh, ít tật bệnh hơn người khác, ăn ngon,tiêu hóa tốt, ngủ dễ dàng,
tinh thần sáng suốt, trí óc minh mẫn.
Người tập khí công cũng có thể dùng
năng lượng nội lực của mình để chữa bệnh cho người khác, nhưng phải hiểu biết
phương pháp chữa bệnh theo quy luật của cách chữa bệnh là âm dương ngũ hành tạng
phủ.
Nếu có hai người cùng tập, sau một thời gian tập hít thở nạp khí,(
giai đoạn hai của KCYĐ ) người này có thể giúp người kia hay giúp cho bệnh nhân
đả thông Mạch Nhâm-Đốc tăng cường chân khí hậu thiên để bổ sung chân khí tiên
thiên bằng cách đặt chồng hai bàn tay lên huyệt Khí Hải ( dưới rốn 4-5 cm) ở vị
thế bệnh nhân nằm ngửa, gọi đơn giản là cách thở bằng bụng , giúp bệnh nhân hít
thở theo dõi phồng-xẹp ở huyệt Khí Hải để biến âm chất ở Khí Hải (dương trong
âm) qua Mệnh Môn hóa dương ( dương trong dương ) theo Mạch Đốc lên đầu qua thần
đoạn để khí hóa thần ,củng cố và phát triển thần kinh, trí não, phần dương chân
khí còn lại tiếp tục vào huyệt Ngân Giao xuống Mạch Nhâm nhờ cuốn lưỡi cong lên
hàm trên làm cầu nối cho dương chân khí biến thành âm chân khí chạy trên Mạch
Nhâm hóa âm chân khí tàng trữ vào đan điền tinh nơi huyệt Khí Hải, thời gian
theo dõi khi để tay lên huyệt Khí Hải là 50 lần hít thở, bệnh nhân cảm thấy bụng
ấm, sôi, hạ khí, trung tiện, thở sâu, nhẹ bụng, mau tiêu hóa, mau đói, ăn biết
ngon, đi cầu dễ ,cách thở bằng bụng giúp tăng tính hấp thụ và chuyển hóa cốc khí
thành âm chân khí làm cho cơ thể tăng huyết, nếu người ăn nhiều vẫn gầy tập cách
này sẽ trở nên mập mạp khỏe mạnh.
Sau 50 lần thở ở huyệt Khí Hải, đổi
sang nằm úp, người bạn đặt hai bàn tay chồng lên huyệt Mệnh Môn ( chỗ trũng
ngang thắt lưng ),theo dõi hơi thở của bệnh nhân, khi hít vào, huyệt Mệnh Môn bị
đẩy lên, khi thở ra ,dùng hai bàn tay giúp sức đè cho huyệt Mệnh Môn hạ xuống
rồi buông nhẹ cho huyệt Mệnh Môn nổi lên khi bệnh nhân hít vào, cách thở này gọi
nôm na là cách thở bằng thận để tăng sự chuyển hóa âm chân khí ở Khí Hải sang
Mệnh Môn biến thành dương chân khí, làm động tác này 50 lần, bệnh nhân cảm thấy
hơi thở sâu hơn, cơ thể ấm, mặt hồng lên, đầu và trán ấm, nếu người mập mạp, ăn
nhiều mà không khỏe mạnh là do âm chân khí không được Mệnh Môn chuyển hóa thàng
dương chân khí, trường hợp này áp dụng cách thở bằng thận, số lần thở bằng thận
nhiều hơn số lần thở bằng bụng gấp hai ba lần để giúp Mệnh Môn hoạt động thu rút
âm chân khí ở Khí Hải biến dương chân khí nhiều hơn, như vậy dương chân khí theo
Mạch Đốc lên đầu, đúng ra nó tự động qua thần đoạn hóa khí, nhưng thần đoạn có
thể bị tắc không thông, người bạn sẽ giúp thông thần đoạn bằng cách dùng ngón
tay cái vuốt mạnh và nhanh từ huyệt Ấn Đường (giữa hai đầu chân mày ) lên đỉnh
đầu vòng xuống dừng lại ở chân tóc gáy (huyệt Thiên Phủ ), sau khi vuốt 6 lần,
mặt bệnh nhân đỏ lên , đó là khí hóa thần, sẽ giúp tăng cường mạnh thêm chân khí
tiên thiên. Người có nhiều dương chân khí hơn âm chân khí thì cơ thể khỏe mạnh,
da thịt rắn chắc nhưng không mập, người có ít âm chân khí là người ốm yếu, người
có nhiều âm chân khí hơn dương chân khí là ngườI mập mà yếu, chân khí âm dương
bằng nhau là tiêu chuẩn lý tưởng.
Bài tập thở này giúp điều
chỉnh mập, ốm một cách tự nhiên không có hại cho sức khỏe. Nếu chúng ta không có
người phụ giúp tập thở, chúng ta cũng có thể tự tập một mình bằng cách dùng túi
cao su đựng nước ấm nóng để trên huyệt Khí Hải, hoặc để trên huyệt Mệnh Môn, vừa
có sức nặng như đè vào huyệt, vừa có sức nóng giúp sự tập trung vào huyệt đúng
hơn khi theo dõi hơi thở bụng hay hơi thở thận.
8-ỨNG DỤNG VẬN KHÍ CÔNG NGŨ HÀNH TRONG THỰC
TẾ :
a-Trong dân gian của giới bình dân :
Quy luật vận
ngũ hành trong khí công để chữa bệnh cũng nằm trong quy luật âm dương ngũ hành
của đông y, có kết qủa tối đa đối với người có tập luyện khí công, nhưng trong
thực tế đời sống hàng ngày, từ cả ngàn năm trước, bà con thôn xóm ở vùng xa xôi
hẻo lánh không có đại phu, hay không có tiền đi đại phu khi bị bệnh, đều đến nhờ
những vị chân sư võ đạo nơi sơn động hoặc các bậc tôn sư chưởng môn dạy võ thuật
chữa bệnh giùm, đa số đều thấy các thầy chỉ vuốt qua vuốt lại vài lần trên những
tiết đoạn của đường kinh là những bệnh cảm cúm ,đau nhức, té ngã, sưng trặc,
bong gân, gẫy xương, nóng sốt, trúng độc, đau bụng ...đều lành bệnh. Từ đó họ
bắt chước, áp dụng cách làm của các vị chân sư võ đạo tiền bối khai sáng ra môn
chữa bệnh bằng khí công, họ tự làm tự chữa khi không gặp được thầy, họ vuốt trên
đoạn khí ngũ hành trên bối du huyệt đường kinh Bàng quang ở trên thăn lưng. Vuốt
trên đoạn đặc trưng của đường kinh trên cánh tay, trên cẳng chân, bàn tay bàn
chân, trên thần đoạn ở đầu, cổ, gáy. Thí dụ bệnh nóng sốt do tâm hỏa thực, thận
thủy bất giao, họ vuốt từ huyệt Thận du trên thăn lưng ngang lưng quần kéo lên
Tâm du ngang với tim, hoặc vuốt đoạn ngũ hành cho mộc nhập hỏa, tự nhiên người
bớt nóng hạ cơn sốt cấp kỳ, cảm sổ mũi, họ vuốt từ huyệt tâm du lên phế du đem
hỏa vào phế để làm cho phổi ấm sẽ hết cảm lạnh. Ói mửa đau bụng họ gọi là trúng
gió, họ vuốt từ Vị du lên Đởm du giúp tiêu hóa, từ Đởm du lên Can du sinh hỏa,
rồi từ Vị du lên thẳng Tâm du làm cho bao tử nóng ấm sẽ hết ói mửa lạnh bụng,
trặc chân tay, họ vuốt trên đoạn đặc trưng để khai thông khí huyết trên đường
kinh làm mất sưng đau ..
Tất cả các cách chữa đều đúng theo quy tắc vận
khí ngũ hành của đông y. Theo thời gian, dân gian dùng dầu dừa, dầu đậu phộng
thoa trên da cho trơn dễ vuốt, trước kia vuốt bằng ngón tay có lực của các võ
sư, dân gian dùng đồng tiền bạc để vuốt thay cho ngón tay nếu không có khí công,
còn các bệnh họ quan niệm đơn giản là do gió ( phong ) thuộc mộc , dùng đồng
tiền bạc bằng kim loại ngụ ý theo ngũ hành thuộc kim dùng khắc chế mộc để chữa
những bệnh trúng gió. Đến thời văn minh dùng dầu lửa, thờI nay dùng dầu cù là,
dầu phong, dầu bạc hà, dầu menthol, dầu vick.. và cạo gió bằng đồng tiền bạc kim
loại thay vì vuốt.
Từ đó, cách chữa bệnh duy nhất của dân
gian nơi thôn quê hẻo lánh là cạo gió cũng đem lại nhiều kết qủa chữa bệnh thần
kỳ, nhưng nguồn gốc lý thuyết họ đã không biết, chỉ truyền dạy hoặc bắt chước áp
dụng từ đờI này sang đời khác thành tam sao thất bản, cạo ngang cạo dọc, cạo lên
cạo xuống, cạo tứ tung ngũ hoành như chúng ta thấy ngày nay, có những đoạn cạo
thừa thãi không vào kinh mạch sẽ không hiệu nghiệm, những đoạn trúng vào các
đoạn ngũ hành, đoạn đặc trưng, thần đoạn, đoạn liên hợp vẫn có kết qủa như
thường, nhưng ngày nay không ai có thể giải thích được nguồn gốc tại sao môn cạo
gió của dân gian cũng cấp cứu được nhiều bệnh mà đông tây y không giải quyết
được.
Ngoài môn cạo gió, dân gian Trung quốc thời cổ đại còn
chế biến thêm môn bắt gió, bẻ bão, tẩm quất, và giác hơi rồi dần dần thành môn
massage chữa bệnh .
b-Trong thời đại khoa học ngày nay
:
Từ phương pháp vuốt huyệt của đông y khí công cổ truyền biến cải dần trong
thời đại khoa học với máy móc, dụng cụ tinh vi để phục vụ cho sức khỏe con
người, nước Nhật phát triển mạnh môn massage có nghệ thuật hơn thành một nghề,
trong kỹ nghệ kiếm tiền ở các phòng tắm hơi, mục đích thư giãn thần kinh khi
tinh thần bị mệt mỏi, khó ngủ sau thời gian làm việc căng thẳng. Những người
muốn làm nghề massage phải qua trường lớp được đào tạo có phương pháp bài bản,
có chứng nhận tốt nghiệp mới được phép hành nghề. Từ đó, nghề này đã du nhập vào
Tây phương và họ nhận thấy công hiệu của massage có hiệu nghiệm làm an thần,
chống đau nhức, mệt mỏi, lại dễ ngủ có thể dùng để chữa những bệnh này một cách
nhẹ nhàng, an toàn ,không cần dùng thuốc nên đã cải biến thành nghề massage chữa
bệnh gọi là massothérapie .
Khoa học cũng đang chế tạo ra những dụng cụ
và máy móc phục vụ cho môn chữa bệnh này trở nên chuyên khoa hiện đại như máy
dùng để chỉnh lại những đốt xương cổ, xương lưng, máy massage điện day ấn trên
lưng ,máy có hai bánh xe nhỏ lăn trên thăn lưng ở vị thế bệnh nhân nằm úp trên
giường massage ,bánh xe chạy lên chạy xuống thay cho ngón tay vuốt huyệt của
thầy khí công tác động trên những đoạn ngũ hành, nếu người điều khiển máy có
hiểu biết công dụng chữa bệnh của đoạn ngũ hành của bối du huyệt trên thăn lưng,
công việc chữa bệnh mới có kết qủa, còn ngược lại cho chạy đều khắp, hết chạy
lên rồi chạy xuống nhiều lần không khác gì vẽ rồi xóa, vẽ lại rồi xóa nữa kể như
không vẽ gì, hiện nay loại máy này đang được thử nghiệm, có người cảm thấy khỏe
vài lần đầu, lạm dụng nhiều lần sẽ phạm ngũ hành làm giảm hồng cầu, chân khí hậu
thiên bị cản không lên thần đoạn trên đầu để hóa thần và trở về Khí Hải để tăng
cường thêm chân khí cho ngũ tạng hoạt động. Chế biến ra máy móc dụng cụ là cần
thiết cho nhu cầu phục vụ sức khỏe, nhưng bị giới hạn kiến thức đông y khí công
của người điều khiển, cũng như hiện nay khoa học đã chế ra máy tìm huyệt rất
chính xác và sau này có thể chế thêm bộ phận chỉ cho thầy thuốc biết huyệt đó
mạnh hay yếu so với tiêu chuẩn để biết hư hay thực, tiến xa hơn nữa có thể gắn
thêm máy châm kim vào huyệt cho đúng giùm cho thầy thuốc, nhưng bệnh có khỏi còn
lệ thuộc vào kiến thức của thầy thuốc chứ không lệ thuộc vào máy
móc.
c-Ứng dụng trong Khí Công Y đạo :
Khí Công Y Đạo
ứng dụng môn Khí công vừa động công, vừa tĩnh công vừa day bấm,vuốt huyệt và vận
khí ngũ hành để thông Nhâm-Đốc giúp tăng cường chân khí, thông 12 chính kinh và
kỳ kinh bát mạch giúp lục phủ ngũ tạng điều hòa tốt để củng cố và phát triển bộ
ba Tinh-Khí-Thần luôn hòa hợp giúp tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực, tinh
thần, trí não và tâm linh, vừa phòng bệnh, tự chữa bệnh cho mình và có thể giúp
ích cho người khác.


12:12
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét