Con
người sinh ra có hình hài là cơ sở vật chất, góp nhặt từ cát bụi, khi chết thân
xác sẽ trở về cát bụi. Nhưng con người có sự sống, theo giáo lý Phật giáo gọi là
thân tứ đại giả hợp mà thành gồm có 4 chất đất, nước, gió, lửa. Chất đất là
tượng trưng cho xương cốt da thịt hình hài của con người, chất nước là máu, nước
và các dịch chất trong cơ thể, chất gió là hơi thở, chất lửa là hơi ấm, ngoài ra
con người còn có tình cảm và sự thông minh sáng suốt của mỗi người mỗi khác
nhau.
Nói
về chữa bệnh, như vậy con người gồm có 5 thành phần, hai thành phần đầu tiên
thuộc vật chất là thổ và thủy, thành phần thứ ba là khí (hơi thở), thành phần
thứ tư là điện (hơi ấm, nhiệt lượng) thành phần thứ năm thuộc trí não, thông
minh sáng suốt gọi là quang.
1-Nguyên
nhân gây bệnh theo khí công :
Con người khỏe mạnh không bệnh tật phải
quân bình được tinh-khí-thần hòa hợp. Khi 3 yếu tố này mất quân bình, cơ thể sẽ
bị bệnh. Do đó, nguyên nhân mất quân bình có thể tại TINH, có thể tại KHÍ, có
thể tại THẦN.
a-Bệnh do Tinh và cách chữa :
Tinh là cơ sở vật
chất, được nuôi dưỡng bằng vật chất gọi là thổ âm như thức ăn, thức uống đem vào
cơ thể để sinh hóa ra thổ dương là chất bổ dưỡng như xương cốt da thịt và cũng
từ thổ dương dư thừa sẽ chuyển hóa thành số lượng máu thuộc thủy âm để nuôi
dưỡng và phát triển cơ thể. Thủy âm là lượng máu lại nhờ hơi thở của khí đem oxy
vào cơ thể mới sinh hóa và chuyển hóa ra hồng cầu bạch cầu gọi là thủy
dương.
Như vậy, bệnh tại TINH, nếu do thổ là do ăn uống không đúng, không đủ
hoặc dư thừa, hay có độc tố làm ra bệnh. Còn nếu do thủy là do máu thiếu, máu
dư, hay máu chứa nhièu độc tố, máu nhiễm trùng.. làm ra bệnh.
Khi thổ
bệnh, chữa bằng cách quân bình lại chất thổ như uống thuốc bột,
thuốc viên, hay ăn uống những chất phá hủy chất dư, bù đắp chất thiếu cho thổ
được đúng và đủ. Nếu thổ âm thiếu, thuốc và ăn uống chọn chất thiên về thổ âm,
nếu thổ âm thừa phải tăng thêm chất thiên về thổ dương để quân bình thổ âm. Đối
với đông y, âm bệnh chữa dương, dương bệnh chữa âm để lập lại quân bình, nếu
thiếu cả hai phải bổ cả hai, nếu âm dương dư thừa mà quân bình đều thì không có
bệnh, phần dư thừa được chuyển hóa ra máu giúp cơ thể hồng hào khỏe
mạnh.
Khi thủy bệnh, chữa bằng cách tiếp nước biển
hay truyền thêm máu, hay lọc máu loại bỏ độc tố, đông y cũng dùng chất nước
thuốc cây cỏ để lọc độc cho máu, để phá huyết ứ, làm tan máu và uống các chất bổ
để cơ thể chuyển hóa thành máu mới.
Theo nguyên tắc chữa bệnh bằng đông khí
công, chữa vào thổ bằng chất thổ mà không hết bệnh, cần phải dùng mẹ để bổ con.
Chất kế tiếp cao hơn nó là chất thủy. Nếu dùng thủy chữa thủy, thì thủy cũng
chữa được các bệnh thuộc thổ, nhưng dùng thổ để chữa thủy thì thủy không hết
bệnh. Thí dụ cụ thể giống như trong ngành giáo dục, chất thổ giống như trình độ
tiểu học, học sinh giỏi của tiểu học có thể chỉ dạy cho học sinh dở, nhưng cả
hai cũng dở, thì người có trình độ trung học đệ nhất cấp giỏi mới giúp được
người trung học dở, mà còn có thể giúp cả cho người tiểu học. Cũng như thế chất
thổ ví như tiểu học, thủy ví như trung học đệ nhất cấp, chất khí ví như trung
học đệ nhị cấp, chất điện ví như đại học, chất quang ví như hậu đại học.
Vì
thế cho nên trong cách chữa của y học hiện đại bệnh nhẹ chỉ cần uống thuốc viên
là khỏi, nhưng bệnh nặng phải vừa uống thuốc viên vừa thuốc
chích
b-Bệnh do khí và cách chữa :
Khí là hơi thở
khi bị bệnh thiếu khí, ngộp thở, suyễn, tây y chữa bằng cách cho thở bằng máy
trợ thở để giúp phổi tự điều chỉnh hơi thở, giúp tim tuần hoàn máu đi nuôi cơ
thể, nhưng máy trợ thở chỉ giúp cho khí trong cơ thể không bị thiếu, chứ không
thể nào làm cho khí dư thừa để khí có thể chữa được bệnh của thủy và thổ. Đối
với Tây y, điều chỉnh bệnh thổ và thủy thì dễ dàng, nhưng đa số bệnh nhân chết
là do thiếu khí ngộp hơi . Đối với khí công, chất thấp như thổ và thủy bệnh,
dùng chất cao hơn nó là chất khí để chữa sẽ có kết qủa. Đó là cách dạy bệnh nhân
tập thở, biết cách tự thở để chữa bệnh bằng nhiều phương pháp khác nhau, chúng
ta sẽ đề cập ở phần sau.
c-Bệnh do thần là chất điện, chất quang và
cách chữa :
Đối với khí công, điện là hơi ấm của cơ thể để tạo ra thần
sắc, biểu lộ ra mầu sắc để biết được khí huyết đầy đủ hay thiếu. Bệnh thiếu điện
là người lạnh, chân tay lạnh, người không đủ khí huyết, áp huyết thấp, không đủ
nhiệt lượng để giúp khí huyết tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, do hô hấp thiếu làm
thần kinh suy nhược. Người bệnh do dư điện là người nóng, sốt, nhiệt, cao áp
huyết, tính nóng nẩy, tâm tính bất thường, về thể chất có thể đứt máu não, hoặc
bệnh Parkinson về tâm thần có thể điên.
Tây y chữa người bị bệnh thiếu
điện dùng thuốc hưng phấn thần kinh, thuốc bổ viên hoặc uống thuốc ống hoặc
thuốc chích trong bệnh cơ thể suy nhược, hoặc dùng thuốc chống trầm cảm
(anti-depression). Ngược lại người dư điện thành nerveuse, stress, cao áp huyết,
cho uống thuốc làm hạ áp, thuốc trị tâm thần.
Đối với khí công dùng
phương pháp luyện khí dưỡng thần.
Đối với đông y khí công, chất điện cũng là
hệ thần kinh gân cơ, chất điện bị bệnh sẽ ảnh hưởng gây bệnh cho chất khí, chất
thủy, chất thổ, làm đau đớn do khí không thông, co rút gân mạch hay chùng gân
mạch do khí tắc làm đau, do huyết tắc làm sưng, do thổ tắc làm biến dạng thành
phong thấp gây thoái hóa khớp, xương cốt..Tây y chữa bằng phương pháp chạy điện,
hay cao hơn là chữa bằng quang như tia hồng ngoại, nếu tổn thương thực thể làm
thoái hóa nội tạng biến dạng thành ung thư thì dùng xạ trị.
Chất quang bị
bệnh là do chất điện.
Chất điện thiếu khiến thần kinh suy
nhược làm chất quang là sự sáng suốt minh mẫn trở thành lú lẫn hay quên, hay lo
sợ, hồi hộp, mất tin tưởng, nhìn sắc mặt nhợt nhạt mất hồn mất trí. Chất điện dư
thừa phá hỏng thần kinh não bộ khiến điên khùng, mất trí nhớ, mất tự kiểm hành
vi gây hại người khác. Khí công cũng có phương pháp thở giúp tăng chất điện và
chất quang cho cơ thể.
Bệnh điên, bệnh tâm thần do xáo trộn thần kinh làm
ra, là một trong ba loại tinh-khí-thần, có nhiều nguyên nhân như nguyên nhân do
ăn uống thuốc men từ chất thổ hay chất thủy có độc tố hại thần kinh, do xáo trộn
chất khí không đủ mạnh để sinh hóa và chuyển hóa loại bỏ độc tố trong cơ thể,
hoặc trực tiếp hít phải khí độc hại đến chất quang là não bộ, hoặc chính chất
quang bị tổn thương như va chạm thực thể hoặc va chạm mâu thuẫn tư tưởng bởi
những xung động, ám ảnh, lo sợ, buồn chán, bất an. Khi chữa những bệnh này,
thông thường đông tây y cũng dùng thuốc chất thổ, chất thủy để chữa cho an thần,
khuyên bệnh nhân tập thể dục thể thao tăng khí lực, bác sĩ tâm lý khuyên giải
trấn an tư tưởng giúp bệnh nhân sáng suốt hiểu lý lẽ để tự giải tỏa những uẩn
khúc nội tâm làm thần kinh được ổn định, nếu cần thiết cũng phải dùng chất quang
là tia laser để chữa những tổn thương thực thể ở đầu.
2-Các phương
pháp thở bằng khí công chữa bệnh :
Theo thứ tự từ sinh hóa đến chuyển hóa
từ thấp lên cao, khi ta ăn uống một chất là thổ âm vào cơ thể phải được sinh hóa
là nhồi bóp phân chia tốt xấu, thanh trọc, chất bổ giữ lại cơ thể, chất xấu
thành phân và nước tiểu loại bỏ ra ngoài. Sinh hóa là phần động, tức là nhai
nuốt, đi lại vận động làm việc, khi ngủ nghỉ đầy đủ là phần tĩnh để cơ thể có
thời gian, chuyển hóa chất bổ thành khí và huyết. Thí dụ khi cơ thể mệt lả yếu
sức, sau khi ăn uống một chất bổ, ngủ tĩnh dưỡng một đêm, sáng dạy người tỉnh
táo, có khí lực khỏe mạnh, người hồng hào. Đó là sự sinh hóa và chuyển hóa của
cơ thể còn tốt. Đông y gọi là sự khí hóa ngũ hành của lục phủ ngũ
tạng.
Như vậy thổ âm sinh hóa thành thổ dương (chất bổ), chuyển hóa thành
thủy âm là thêm lượng máu. Máu là thủy âm nhận oxy thành thủy dương, thủy dương
sinh hóa rồi chuyển hóa tinh huyết thành khí âm, rồi lại sinh hóa thành khí
dương, chuyển hóa thành điện âm(sức ấm trong cơ thể), điện âm sinh hóa thành
điện dương biến thành hồng hào biểu lộ ra ngoài gọi là thần sắc, chuyển hóa
thành quang âm là chất bổ nuôi tế bào não, sinh hóa thành quang dương phát triển
trí óc, tiếp tục chuyển hóa thành năng lượng dự trữ làm cho cơ thể vật chất tốt
tươi mạnh khỏe, tinh thần sáng suốt minh mẫn, trẻ hóa tế bào, kéo dài tuổi thọ,
tiếp tục sinh hóa chuyển hóa phát ra được sóng thông tin và nhận lại được sóng
thông tin khác, con người trở thành người có trí siêu phàm, có nhiều năng lực dị
thường, đang ở trạng thái cao nhất của khí công là trạng thái thần hoàn
hư.
Nếu một người không có tập luyện khí công mà chữa bệnh bằng vuốt huyệt sẽ
bị mất sức vì không có khí lực, nhưng người có tập luyện khí công và chữa bệnh
bằng khí công không hề thấy mệt mỏi khi chữa cho nhiều người, người ta gọi là
người có khí lực, cao hơn khí lực là thần
lực từ chất điện tạo ra sóng từ trường năng lượng, khi chữa
bệnh cho nhiều người mà không bị mất sức, cao hơn thần lực
là huyền lực do sức mạnh của chất quang, tương
đương với cách chữa bệnh có hiệu lực nhất của y khoa hiện đại là dùng tia
laser.
Thông thường, chữa bệnh đi từ chất thấp lên chất cao, bệnh nhẹ dễ
khỏi, như một người yếu đuối suy nhược thể chất, chỉ cần chữa cho có da có thịt
thuộc chất thổ, máu huyết đầy đủ thuộc chất thủy, có sức mạnh thể chất, đi đứng
bình thường khỏe mạnh thuộc chất khí là ngưng không cần chữa nữa. Nhưng bệnh
nặng phải chữa thời gian lâu, từ sinh hóa sang chuyển hóa dần dần từ thổ lên
thủy, lên khí, từ chất khí lên chất điện rất khó, một bệnh nhân nằm nhà thương,
chữa đủ cách, đủ kiểu, cơ thể cứ khi nóng khi lạnh, thần sắc thuộc chất điện
không có, khi tỉnh khi mê thuộc chất quang, nếu khí thiếu sẽ cho bệnh nhân gắn
máy trợ thở đủ để có dưỡng khí cho tim mạch tuần hoàn, chứ không biết cách tạo
chất khí cho bệnh nhân có khí lực dư thừa để sinh hóa chuyển hóa phân thanh trọc
trong nội tạng .
Một cách chữa nhanh hơn, đi từ chất cao để chữa bệnh của
chất thấp, người ta gọi là phép lạ vì ít người có khả năng chữa bệnh làm mạnh
chất quang là chất cao nhất, tự nó sẽ có khả năng điều chỉnh được bệnh do những
chất thấp làm ra.
Thí dụ, có hai cách chữa :
Về vật chất
hữu hình, nếu nghiên cứu dùng vật chất của chất quang là tia laser hay hồng
ngoại tuyến chữa những bệnh nội tạng, hay những bệnh đau nhức sẽ có kết qủa
nhanh hơn, nhưng vì chưa có kinh nghiệm sử dụng đúng liều lượng nên gây tổn
thương phá vỡ tế bào như hiện nay đang dùng xạ trị chữa cancer vẫn chưa thành
công.
Về siêu hình, như niềm tin cầu nguyện, hay được các
vị chân tu đạo hạnh hoặc các vị bác sĩ tâm lý thần kinh biết cách giải tỏa những
mâu thuẫn tư tưởng làm cho bệnh nhân giác ngộ giúp ổn định thần kinh, cơn đau
đớn thể xác và tinh thần đối với những bệnh nan y, cancer.. sẽ không làm cho
bệnh nhân sợ hãi, sẽ không làm rối loạn chức năng sinh hóa chuyển hóa của cơ thể
thì bệnh giảm dần. Chấm dứt một căn bệnh nan y là cái chết, ai cũng sợ hãi làm
rối loạn thần kinh chức năng tự chữa bệnh của cơ thể, nhưng khi con người không
còn sợ chết vì tin rằng làm người ai cũng phải qua giai đoạn có bệnh có chết,
tâm bình thản đón nhận, chờ Chúa gọi về, nếu tin rằng có bệnh muốn cầu chết mà
Chúa chưa gọi cũng không thể nào chết được, triết lý Phật giáo cho rằng sự sống
chết của con người do nghiệp chứ không phải do bệnh, cho nên có những người bệnh
lây lất từ năm này sang năm khác, khổ đau chồng chất, muốn chết mà vẫn chưa được
chết cho thoát nghiệp, nếu tự tử để trốn nghiệp thì nghiệp vẫn còn tái diễn ở
kiếp sau, chi bằng bình thản chấp nhận sẽ bớt khổ sở, tâm bình an chức năng khí
hoá ổn định không bị rối loạn do tư tưởng, nó sẽ có khả năng tự chữa bệnh, cho
nên đạo Phật nói vạn pháp do tâm sinh, vạn pháp do tâm
diệt ,tâm bất an sẽ làm rối loạn chức năng khí hóa gây ra bệnh,
tâm bình yên sự khí hóa đều đặn bệnh sẽ mau hồi phục, đối với đạo Phật, bệnh là
hiện tướng của nghiệp xấu, muốn mau hết nghiệp bệnh chỉ có thể cải nghiệp bằng
cách tạo thêm những điều thiện lành, bỏ tính ích kỷ keo kiệt, quên thân mình
đang bệnh, phải giúp đỡ những người nghèo khổ bệnh tật khác không có điều kiện
may mắm như mình, do đó có những bệnh nhân giầu có sắp lìa đời vì căn bệnh hiểm
nghèo mà y khoa đã bó tay, cái chết đến chỉ còn là thời gian thôi, may mắm họ
gặp được những vị chân tu khuyên họ, không nên chờ chết trong đau khổ sợ hãi, mà
nên làm một điều gì đó có ích cho xã hội trước khi lìa đời sẽ có ý nghĩa hơn để
tạo nhân lành cho kiếp sau, vì khi chết đi của cải không đem theo được, họ dùng
tiền của dư thừa đi khắp nơi giúp đỡ những trại cô nhi, những người tàn tật bệnh
hoạn, họ đi từ nơi này sang nơi khác ban rải niềm vui đến cho mọi người, hàng
trăm hàng ngàn người nhờ họ được bớt khổ, họ thấy việc làm của họ có ý nghĩa và
công việc ấy trở thành một niềm vui đam mê, quên hẳn đến cái chết của mình, làm
việc không mệt mỏi, cuối cùng họ được khỏi bệnh, y khoa khám lại thấy hết dấu
hiệu cancer, gọi là một phép lạ. Những lời khuyên của các bác sĩ tâm lý thần
kinh, của các vị chân tu, những niềm tin tôn giáo cầu nguyện nhờ vào tha lực đã
tạo cho họ có một tinh thần sáng suốt, minh mẫn, chức năng thần kinh đã được ổn
định, tự điều chỉnh được sự khí hóa của cơ thể tái lập lại quân bình của cơ thể
mà họ được khỏi bệnh.
Con số người được khỏi bệnh nhờ phép lạ như trên
thật hiếm hoi, chúng ta không có duyên may như thế. Nhưng thật ra, hiện nay
nhiều người cũng đã thoát khỏi bệnh hiểm nghèo nhờ tập khí công, người đời cũng
gọi là một phép lạ vì không giải thích được.
Chúng ta không
giải thích được vì trở ngại sở tri kiến chấp, lấy cái kiến thức
hiểu biết của mình để đánh giá những điều chưa biết, chưa học, chưa hiểu thì làm
sao giải thích được. Trong câu chuyện thiền kể chuyện một vị
giáo sư nổi tiếng đã đào tạo ra nhiều học trò có học vị tiến sĩ, ông thắc mắc
tại sao nhiều học trò của mình hay đến thiền viện theo học thiền sư và tự hỏi
ông ấy có gì hay hơn mình, giáo sư có ý không phục, muốn đến tranh tài với thiền
sư về kiến thức học rộng biết nhiều của mình. Khi đến nơi, thiền sư ra tiếp,
giáo sư nóng lòng đặt câu hỏi, thiền sư chậm rãi mời khách chờ ngài nấu nước pha
trà, khi rót trà vào ly, thiền sư làm như vô ý, vừa rót trà vừa hỏi chuyện xã
giao với giáo sư làm nước tràn đầy ly đổ ra ngoài. Khi giáo sư đặt câu hỏi,
thiền sư đã ví kiến thức của giáo sư giống như một ly nước đầy,
nếu có rót thêm cũng chỉ tràn ra ngoài vô ích mà thôi, phải đổ ly trà cũ đi mới
có chỗ rót trà mới vào được.
Nhiều bệnh nhân ngoại quốc đến phòng
mạch hay thắc mắc đặt câu hỏi yêu cầu tôi giải thích chữa bệnh bằng khí công là
gì trước khi vào chữa. Tôi từ chối không chữa, và trả lời rằng tôi giải thích
những điều qúy vị chưa học, chưa biết làm sao qúy vị hiểu được, hãy về hỏi lại
những người bạn đã giới thiệu bạn đến đây, vì đó là những người đã khỏi bệnh nhờ
khí công. Họ ra ngoài gọi cell phone hỏi bạn, bạn trả lời cứ xin vào chữa rồi
biết chữa bệnh bằng khí công là gì, đừng thắc mắc, họ trở lại năn nỉ xin được
chữa, kết qủa làm họ hài lòng, và xin theo học khí công.
Khí công tại sao
hiệu nghiệm, nếu giải thích theo 5 chất cấu tạo ra con người như trên, thì chất
khí là chất trung gian, tập luyện khí công tạo ra một lực đẩy mạnh, đều, giúp
chất thủy là máu lưu thông, giúp thêm oxy tăng hồng cầu, chuyển hóa tế bào, cả
khí và huyết tốt lưu thông khắp cơ thể để làm chất đất được thay đổi tốt hơn, da
thịt xương cốt mạnh khỏe hồng hào. Như vậy chất khí sẽ chữa được chất thủy và
chất thổ. Khi chất thổ, chất thủy, chất khí dư thừa thì chất khí tạo ra chất
điện là hệ thần kinh, là năng lượng, thân nhiệt, là hệ miễn nhiễm giúp cơ thể
chống được bệnh tật, chất điện dư thừa chuyển hóa thành chất quang làm cho trí
óc tinh thần minh mẫn sáng suốt, biết phân biệt đúng sai, tốt xấu, lợi hại để
phát triển và bảo vệ cơ thể toàn hảo.
Nếu giải thích theo khoa học, muốn
tạo ra điện, có nhiều cách mà chúng ta đã từng áp dụng. Chế tạo điện một chiều
như pile cần chất thổ (base), chất thủy (acide), chất khí là nồng độ, là bề dầy
của mỗi lớp tạo ra khoảng cách phân cực đều sẽ có đầu âm đầu dương tạo ra điện.
Điện hai chiều như thủy điện, cần chất thổ là một guồng quay, những sợi dây dẫn
điện, và những thứ vật chất linh tinh khác, chất thủy là nước từ những thác
nước, chất khí là sức mạnh của nước chảy từ độ cao xuống, thác nước càng cao,
lực làm quay guồng nước càng mạnh, tạo ra điện cao thế chứa trong trạm máy biến
thế truyền đi thành điện tiêu dùng cho mọi nhà . Nếu không muốn tạo điện bằng
chất thủy. Chúng ta có thể tạo điện bằng chất thổ có chứa sẵn chất điện và chất
khí bên trong như chất uranium trong lò phản ứng hạch nhân, nhưng lại tạo ra
chất khí và chất quang độc hại là phóng xạ mà không kiểm soát được. Cách tạo
điện tốt nhất hiện nay là chất quang lấy từ ánh sánh mặt trời.
Cách chữa
bệnh cũng thế, chữa bằng chất thổ (thuốc uống) không hay bằng chất thủy (thuốc
chích), nhưng cũng không hay bằng tập khí công hít thở, nhờ hít thở tạo chất
khí, hòa hợp với chất thủy làm máu thay đổi tăng hồng cầu, hệ miễn nhiễm, sẽ làm
thay đổi chất thổ, thay đổi da thịt, mạnh xương cốt, cả 3 chất trong cơ thể dư
thừa tạo ra chất điện, người ấm áp, lại có khả năng phát điện từ trường gọi là
từ trường nhân điện, nhưng nếu không biết cách tập khí công tạo ra điện mà dùng
nhân điện của mình chữa bệnh cho người khác sẽ hao tổn chất điện làm mất chất
khí, chất thủy khiến chất thổ không được nuôi dưỡng và bảo vệ, cơ thể sẽ bị
bệnh, chưa kể bị nhiễm bệnh của người khác.
Nếu tự chữa
bệnh bằng hơi thở là chất khí, lại biết cách ăn uống đúng với nhu cầu cơ thể cần
là biết cách bồi bổ chất thủy, chất thổ, sẽ tạo ra được chất điện, tránh không
đem những độc tố vào cơ thể bằng những loại thuốc không phù hợp với nhu cầu,
hoặc dùng đúng thuốc nhưng lạm dụng đến mức dư thừa không chuyển hóa quân bình
được những phản ứng hóa học trong cơ thể sẽ làm mất quân bình khí hóa gây nên
bệnh khác. Chất điện muốn duy trì và tích lũy được nhiều để phát triển ra chất
quang cần phải tập đều mỗi ngày, giúp cơ thể khỏe mạnh chống bệnh tật, chứ không
phải vừa có chất điện, thấy cơ thể khỏe mạnh hồng hào là thôi không tập nữa thì
bệnh sẽ lại tái phát.
Có những người có niềm tin tôn giáo vững mạnh, dù
có bệnh nan y không chữa được, y học đã bó tay. Họ nghĩ rằng khí công phải tập
rất lâu chưa chắc đã hồi phục, nên cuộc đời còn lại ngắn ngủi của họ, hết lòng
dâng mình cho Chúa bằng cách cầu nguyện đều đặn mỗi ngày cho tinh thần bình an,
các phật tử thì đi chùa đọc kinh, niệm Phật, đi kinh hành, tập ngồi thiền, niệm
lục tự Di Đà cầu vãng sanh. Nhưng sau một thời gian họ tự nhiên khỏi bệnh, trông
hồng hào khỏe mạnh, đi tái khám không còn dấu hiệu của bệnh cancer, họ gọi là
phép lạ nhiệm mầu. Trường hợp này khoa học không giải thích được, nhưng phân
tích theo khí công thì dễ hiểu.
Chữa bệnh bằng thuốc hoặc ăn uống thuộc chất
thổ, đông y gọi là tinh, chữa khí công để tạo khí, đông y
gọi là khí, khí dư thừa sẽ tạo ra điện là một
phần của hệ thần kinh chức năng giúp cơ thể ấm áp, đông y gọi
là thần. Khi tinh-khí-thần hòa hợp sẽ khỏi bệnh, muốn hòa
hợp được 3 yếu tố này cần phải kiên định, có ý chí, sự quyết tâm, sáng suốt có
từ chất quang. Chất điện và chất quang càng nhiều thì yếu tố thần mạnh nhất sẽ
giúp cho tinh khí hòa hợp, thần vững, tâm bình, chức năng khí hóa không bị rối
loạn sẽ tự điều chỉnh được quân bình cơ thể đến chỗ hoàn chỉnh thì khỏi bệnh,
nhưng đa số bệnh nhân không tin vào những gì trừu tượng không thấy được mà chỉ
tin vào thuốc là chất thổ, và cũng bị tắc kẹt từ chất thổ không có chất khí để
chuyển hóa lên các chất trên được nên những bệnh nan y như cancer không giải
quyết được.
Trên nguyên tắc phải lấy chất cao chữa chất
thấp, lấy thần để chỉnh khí, dùng khí để chuyển hóa tinh là
nguyên tắc của đông y khí công, cho nên những bệnh nhân cancer
sắp chết, khoa học bó tay, chỉ đành cầu nguyện đến tha lực, nhờ Chúa hay Phật
cứu độ để được sống bình an khỏe mạnh, chết được thanh thản nhẹ nhàng không đau
đớn thân xác. Họ đặt niềm tin vào tôn giáo là họ đã sáng suốt, có chất quang,
nhất tâm đọc một câu kinh cầu nguyện Chúa, nhất tâm niệm một câu A Di Đà Phật là
tâm đã ổn định, tinh thần vững không sợ hãi lo đến sống chết, khi đọc kinh là họ
vô tình tập thở khí công, tạo tần số thở đều đủ tiêu chuẩn của khí
công thở chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, bình thường, khi đọc kinh
thầm không to tiếng là nhẹ, một câu niệm 6 chữ tạo hơi thở ra đều, sâu, nếu đọc
3 chữ chỉ có đều nhưng hơi thở ngắn mà không có sâu, đọc câu dài quá, thay đổi
khi dài khi ngắn bất bình thường sẽ rối loạn nhịp thở làm bệnh nặng thêm, đó là
lý do người bệnh không thể đọc tụng kinh sách được mà chỉ có niệm một câu nhất
định, thời gian niệm càng lâu càng tốt, nhưng không qúa sức mệt mỏi, giúp cơ thể
thoải mái, bình thường, khi niệm hay khi không niệm hơi thở vẫn chậm, nhẹ, sâu,
đều, gọi là bình thường. Khi niệm một câu kinh, có hai điều lợi, vô tình đang
tập thở khí công mà không biết, đó là một tự nguyện tự tạo ra khí lực, đặt niềm
tin vững mạnh vào huyền lực được ơn trên cứu độ, câu niệm tạo ra từ trường phát
sóng thông tin và nhận lại được sóng thông tin trong không gian vô hình giúp
tinh thần tự nhiên thông minh sáng suốt khôn lanh hơn xưa, và niệm Phật hay đọc
kinh cầu nguyện chính là đang cầu tha lực của các Ngài đến cứu độ, chất quang
được phát huy tuyệt đối, đối với khí công, đó là lối chữa bệnh đúng, giống như
cách tạo điện bằng năng lượng ánh sáng mặt trời vậy.
Nếu những người
không có niềm tin tôn giáo, làm biếng không muốn tập khí công, chỉ muốn nhờ thầy
khí công chữa bệnh có khỏi được không ?
Dĩ nhiên vẫn có kết
qủa. Vì khí công có nhiều phương pháp thở. Từ lâu, Trung Quốc đã có những cách
thở dẫn khí vào tạng phủ bệnh, đem khí mới vào, rút những độc khí trong tạng ra
bằng đường mồ hôi, tiêu tiểu. Cách này mất nhiều công phu, khó tập. Ông tổ ngành
đông y đưa ra một triết lý trừu tượng là sự biến dịch của âm dương trời đất của
đại vũ trụ giải thích những biến dịch trong cơ thể con người là một tiểu vũ trụ
theo nguyên tắc thiên nhân đồng nhất thể. Như vậy trong con người được vận hành
bởi hai loại khí, khí tiên thiên và khí hậu thiên. Khí tiên thiên do điều kiện
cuộc sống, môi trường vật chất và tinh thần, tình cảm khi cha mẹ sống trong lúc
thụ thai, tạo ra nguyên khí cho bào thai mạnh hay yếu, về dinh dưỡng vật chất,
về tinh thần, về gene..Sau khi sanh ra, đưá trẻ được hấp thụ vào cơ thể những
chất dinh dưỡng vật chất, môi trường sống mới, tình cảm, phong tục tập quán
trong gia đình, ngoài xã hội, hoàn cảnh địa dư..khác nhau, đó là khí hậu thiên.
Nhân tri sơ tính bản thiện, khí hậu thiên nhờ khí tiên thiên dẫn dắt để kiểm chế
thói hư tật xấu, biết nhân ,nghiã, lễ, trí, tín. Nhưng nếu khí tiên thiên xấu,
cha mẹ hư hỏng sẽ chỉ dạy cho con tính hư tật xấu hoặc sống trong môi trường cờ
bạc, rượu chè, trai gái, nghiện hút, sẽ làm hại khí hậu thiên. Đó là khí tiên
thiên và khí hậu thiên mình có thể nhìn thấy được, nhưng quy luật khí tiên thiên
và hậu thiên trong chữa bệnh là trừu tuợng không thấy được, nhưng kết qủa chữa
bệnh thấy được. Như một tội phạm bị pháp luật sửa trị trở thành người biết tôn
trọng luật pháp thì thấy được, nhưng một người xấu sau khi tu học được giác ngộ
trở thành người tốt có ích cho xã hội thì không thể nào hiểu được.
Cơ thể
vât chất có lục phủ ngũ tạng là hữu hình, nhưng khi vuốt huyệt theo quy luật khí
hóa ngũ hành thì bệnh khỏi không giải thích được, bởi vì khoa massage cũng vuốt
xoa nắn bóp, thậm chí còn lâu và kỹ hơn thời gian vuốt huyệt tại sao không khỏi
bệnh, vì không phải vuốt theo quy luật khí hóa hậu thiên. Nhưng khí tiên thiên
mới quan trọng giúp khí hậu thiên chuyển hóa . Kết qủa của đông y khí công, châm
cứu day bấm huyệt dùng để chữa bệnh có kết qủa thì ai cũng biết. Nhưng chữa bệnh
bằng khí tiên thiên nghe có vẻ mới lạ, khó giải thích, nhưng kết qủa rất nhanh
như một phép lạ không ngờ. Chúng ta phải biết cám ơn thượng đế đã cho con người
tất cả, từ hình hài con người, từ vật chất nuôi dưỡng con người, chỉ cho cách
chữa bệnh hợp với quy luật thiên nhiên, chỉ cho cách tiến hóa từ đời sống lạc
hậu đến đời sống văn minh vật chất và đời sống văn minh tinh thần, phần này
chúng ta đã bỏ quên, thuộc về triết học, tâm lý học, đạo đức học, luân lý học,
siêu hình học..
Cách chữa bệnh giúp cơ thể sinh hóa chuyển hóa từ thức ăn
uống vật chất thành chất bổ nuôi dưỡng và phát triển con người, đông y gọi là sự
khí hóa ngũ hành tạng phủ, mỗi tạng phủ theo khí hậu thiên mang một con số theo
sự biến dịch, lý thuyết thì trừu tượng nhưng hữu lý còn dễ hiểu như : cây gọi là
mộc, cây củi khô dùng làm chất đốt sẽ sinh ra lửa tạo sức nóng, nên gọi là mộc
sinh hỏa, khi nhà cháy xong để lại đống tro tàn, gọi là hỏa sinh thổ, trong đống
tro tàn ấy chỉ còn lại chất kim loại không cháy, vùi trong lòng đất thành quặng
mỏ, gọi là thổ sinh kim, khi kim loại đốt nóng chảy ra nước gọi là kim sinh
thủy, chỗ nào có nước là có cây cỏ mọc, gọi là thủy sinh mộc. Một vòng biến hóa
,hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa tạo ra
một chu kỳ gọi là ngũ hành tương sinh. Nhưng để giữ quân bình cho sự sinh hóa,
không cho chất nào dư chất nào thiếu, cần phải có lực kìm hãm khắc chế theo luật
như ,kim khắc mộc (dao chặt được cây), mộc khắc thổ (cây cừ chặn được đất lở),
thổ khắc thủy (đất đắp đê chặn nước), thủy khắc hỏa (nước dập tắt lửa), hỏa khắc
kim (lửa làm chảy kim loại).
Trong cơ thể, nhờ hệ thống
thần kinh giống như máy điện toán có gài đặt chương trình kiểm soát tự động, gọi
là sự chế hóa ngũ hành, hành nào thiếu được tự động sinh ra, hành nào dư tự động
bị giảm bớt để cơ thể sinh hóa và chuyển hóa đúng tiêu chuẩn phù hợp với cơ thể,
chứ không phải điều chỉnh đúng lý tưởng, vì bộ ba tinh-khí-thần được cấu tạo khí
tiên thiên và khí hậu thiên khác nhau. Thí dụ như ở Việt Nam chúng ta ăn mắm
rươi, mắm tôm, mắm tép là thường, tính di truyền, từ đời ông bà cha mẹ ăn đến
đời chúng ta cũng ăn mà không sao, khi chúng ta sang đến môi trường sống tây
phương, ăn lại những món đó trở thành dị ứng gây bệnh. Khi chữa bệnh theo đông y
khí công, thầy thuốc dựa vào con số quy định của khí hậu thiên, tim và ruột non
thuộc hỏa là số 2, lá mía và bao tử thuộc thổ là số 5, phổi và ruột già thuộc
kim là số 4, thận và bàng quang thuộc thủy là số 1, gan và mật thuộc mộc là số
3. Theo sự khí hóa thì khí hỏa sinh thổ, khí lực đập của tim là hỏa tạo nhiệt
lượng sinh ra khí của lá mía và bao tử là thổ khí giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt,
khí của thổ mạnh sinh khí cho kim là phổi và ruột già tốt tăng cường thêm oxy
cho máu, tăng lực đẩy tuần hoàn khí huyết cho cơ thể, tăng sự co bóp ruột gìa để
tẩy độc đẩy cặn bã ra ngoài, kim mạnh giúp sinh thủy làm thận khí mạnh tạo ra
nội dược, hệ thống miễn nhiễm, điều chỉnh được chất béo, đường, mỡ, muối, nước,
tạo ra chất vôi, tây y gọi là sự chuyển hóa glucid, protid, lipid. Thủy mạnh sẽ
bảo vệ nuôi dưỡng mộc là gan, chứa máu được tốt, gan tốt là mộc tốt sẽ dùng làm
chất đốt dự trữ nuôi tim khỏe mạnh tạo nhiệt lượng cho cơ thể.
Thầy đông
y khí công dựa vào các con số 1,2,3,4,5 đó để điều chỉnh bệnh bằng cách vuốt day
huyệt theo luật biến dịch của Hà Đồ Lạc Thư, một công thức đã có từ mấy ngàn
năm, phần bị thất truyền, phần vì thầy thuốc không có năng lực khí công để áp
dụng có kết qủa, châm cứu áp dụng được Hà đồ Lạc thư không có kết quả, vì kim
châm bổ tả là tự khí trong cơ thể điều chỉnh chứ không có ngoại khí tiếp sức làm
tăng năng lực khí hóa. Chúng ta cũng đã thấy kết qủa kỳ diệu của các con số chữa
theo Hà đồ Lạc Thư. Ngành châm cứu tây phương chưa thấy một trường hợp nào chữa
lục phủ ngũ tạng bị bệnh được thành công, những bệnh nặng đều phải nhờ đến cách
chữa trị của tây y, bởi vì từ trước đến nay các bác sĩ tây y đi học châm cứu
đông y mục đích chữa giảm đau không cần thuốc, và dùng châm cứu phụ thêm với tây
y trong các bệnh phong thấp, đau nhức, mất ngủ, chóng mặt nhức đầu, bệnh thần
kinh...họ không thể nào lý luận và hiểu được những mơ hồ như khí tiên thiên khí
hậu thiên, Hà đồ Lạc thư, cách bắt mạch theo tứ chẩn vọng văn vấn thiết, kinh
mạch lạc, huyệt đạo, Kỳ kinh bát mạch, bát quái ngũ hành, thời châm (châm cứu
theo giờ), châm cứu theo Tý ngọ lưu trú, châm theo bát mạch, Linh quy bát pháp..
còn nhiều rắc rối khó học, chỉ học tới đâu thực hành tới đó, có cái hay, có cái
dở, không quy nạp được vì không hiểu hết những lý lẽ thâm sâu, ngay cả diễn dịch
giải thích nguyên nhân tại sao bị bệnh, tại sao chữa không hết hay tại sao chữa
không hay chỉ cầu may, mình còn không hiểu làm sao tạo niềm tin cho bệnh
nhân?
Khi tôi áp dụng đến những con số của khí tiên thiên,
khác với con số của khí hậu thiên, hỏa là quẻ ly số 3, thổ là quẻ cấn số 7, quẻ
Khôn số 8, kim là quẻ Càn số 1, quẻ Đoài số 2, thủy là quẻ Khảm số 6, mộc là quẻ
Chấn số 4, quẻ Tốn số 5.
Áp dụng khí tiên thiên có 3 điều
lợi : thứ nhất khi vuốt huyệt, theo quy luật
sinh hóa chuyển hóa ngũ hành, vẫn theo quy luật bổ mẹ tả con, có công dụng như
vuốt huyệt truyền khi, thứ hai, dặn bệnh nhân đọc nhẩm như
cầu nguyện, niệm theo thứ tự những con số đó mà mình đã chữa để khí huyết lưu
thông qua những tạng phủ đang cần điều chỉnh, vô tình là đang tập thở cho cơ thể
tạo tần số thở đều, chậm ,nhẹ, sâu, thở nhiều lần trong ngày khi đi đứng nằm
ngồi đều thở, được thời gian lâu, thành thói quen bình thường, tâm an, thần trụ,
tạo ra điện từ trường, phát ra sóng não để nhận năng lượng từ vũ
trụ, thứ ba, nhờ vào tha lực nơi từ trường vũ trụ tạo nhịp
sinh học thiên nhân đồng nhất thể tự hóa giải bệnh tật. Nhiều bệnh nhân cho biết
sau một tuần niệm số khí tiên thiên của ngũ tạng, những chứng đau sưng biến mất,
lại thở được dễ dàng, bướu nhỏ dần, họ cho là con số thần kỳ, tạo ra phép lạ.
Tuy nhiên các con số là các bài thuốc tập thở theo đối chứng trị liệu lâm sàng,
mỗi lúc mỗi khác. Có người nghi ngờ hỏi có chắc như thế không, chỉ những người
có bệnh mới trả lời được, triết lý nhà Phật nói ai uống nước thì người ấy mới
biết được nóng hay lạnh. Có người cầu nguyện nhờ tha lực được hết bệnh, nó cũng
phải có quy luật, muốn hết bệnh, bên Phật giáo cầu nguyện vị Phật Dược Sư, muốn
hết khổ cầu Phật Bà Quan Âm, muốn vãng sanh niệm danh hiệu Phật A Di Đà.. những
câu niệm ấy phát sóng thông tin ra không gian, sẽ nhận được những từ trường năng
lượng vô hình. Thực tế, thế gian thường tình không tin, chỉ cho là niềm tin, hay
cho là tốt số, may mắm khỏi bệnh. Khí công đã giải thích, niệm Phật, cầu nguyện,
là đang điều chỉnh hơi thở tạo tần số thở đều, chậm, nhẹ, sâu, sẽ hưởng được kết
qủa tốt cho sức khỏe. Còn sóng thông tin phát ra có người nhận hay không, chúng
ta hãy thí dụ thử gọi số 911 bằng tiếng Việt, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp.. trong
số những người đi đường ở xứ Bắc Mỹ này, họ nghe được, sẽ biết mình đang cần
giúp đỡ, họ sẽ gọi giùm 911, cảnh sát và xe cưú thương sẽ đến săn sóc giúp đỡ
ngay, hoặc nếu bạn xuống phi trường lạ chờ người ra đón mà không biết mặt, bạn
chỉ cần gọi tên hoặc gọi đúng con số phone của người ấy, tức khắc họ sẽ đến đón
bạn. Đấy là một số những khái niệm về những con số code kỳ lạ phát ra sóng thông
tin có người nhận và giúp đỡ gọi là tha lực.
Ngoài ra những cách thở trụ
ý ở đan điền thần, đan điền tinh, Bách hội, Mệnh môn, Ấn đường, Lao cung, Dũng
tuyền, thở thông dương, thông âm, thanh âm, thanh dương, âm thăng dương giáng,
thối âm thăng dương, trụ ý vào luân xa, thông tiểu chu thiên, thông đại chu
thiên, thông khí, thông tinh, thở luyện tinh hóa khí, luyện khí dưỡng thần,
luyện thần hoàn hư là những bài tập khí công, hay tập thở thiền theo quán tức,
sổ tức, thở đến chỗ như không thở, nhập định tâm tĩnh lặng sẽ nhận được năng
lượng kỳ diệu của vũ trụ giúp cơ thể khỏe mạnh hết bệnh. Tất cả những phương
pháp trên đều cần đến sự quyết tâm kiên trì, dũng mãnh, tinh tấn sẽ đem lại kết
qủa không ngờ như một phép lạ.
Tất cả những cách thở như vậy đều có khả
năng chữa bệnh nên được gọi chung là khí công tự chữa bệnh, khác với các loại
khí công dưỡng sinh, tài chi, võ thuật, yoya, vì các môn này không trực tiếp
chữa bệnh như làm hạ áp huyết, hạ đường máu, hạ cholesterol như khí công chữa
bệnh. Chọn cách thở để chữa bệnh còn tùy theo hai điều kiện, thầy thuốc phải
hiểu công dụng khác nhau của mỗi cách thở, phải định được bệnh theo phương pháp
tứ chẩn của đông y vọng, văn, vấn, thiết, để chọn cách thở cho phù hợp đúng tình
trạng bệnh cần điều chỉnh như chỉnh tinh, chỉnh khí, chỉnh thần, điều chỉnh khí
hóa lục phủ ngũ tạng, điều chỉnh chất thổ, chất thủy, tăng khí, cách thở sinh
điện, cách thở sinh quang, cách thở tăng cường sức khỏe, tăng cường trí
nhớ..
Nếu chọn cách thở đúng bệnh cho bệnh nhân áp dụng được khỏi bệnh,
người ta sẽ gọi là một phép lạ !
Thí dụ các bệnh nhân có khối u bướu
trong cơ thể, sau khi định được bệnh và biết được nguyên nhân gây bệnh theo cách
khám đặc biệt của môn khí công chữa bệnh, sau đó thầy khí công phải tìm xem dùng
huyệt nào mới phù hợp, và vuốt huyệt làm sao để tăng khí hay tăng huyết hầu tạo
ra sự sinh hóa chuyển hóa theo khí hậu thiên hay khí tiên thiên cho có hiệu qủa
nhanh nhất. Cuối cùng cho bệnh nhân tập động công và thở tĩnh công. Cho bệnh
nhân nằm tập thở bằng cách niệm số nào để tiếp tục kích thích và duy trì cho khí
tiên thiên hoạt động liên tục đều đặn, vừa lọc máu vừa tẩy độc, vừa thông huyết
vừa bổ khí, vừa giúp ăn ngủ ngon, tiêu hóa tốt, hết đau đớn, sức khỏe trở lại
bình thường đúng tiêu chuẩn ăn được ngủ được là tiên. Đó là phương pháp của khí
công chữa bệnh.
Trong số những bệnh nhân này trong thời gian tập một tuần
đều đặn, trung bình 4-8 giờ tập mỗi ngày, khối u bướu nhỏ dần và biến mất, không
còn đau đớn, ăn ngủ được, da dẻ hồng hào. Có những bệnh nhân may mắn khi phải
đến bệnh viện theo ngày hẹn để mổ theo kế hoạch định sẵn, bác sĩ đã hoãn lại vì
không tìm thấy khối u để mổ và cho về. Có những người kém may mắn, đến ngày hẹn
mổ cắt bỏ khối u, vì đã không yêu cầu bác sĩ khám lại hoặc nói cho bác sĩ của
mình biết khối u đã nhỏ lại xem có cần thiết phải mổ không, nếu không báo cho
các bác sĩ chuyên khoa biết sự thay đổi mà cứ tiến hành phẫu thuật, thì căn cứ
vào hồ sơ cũ, liều thuốc mê đã được tính sẵn nặng nhẹ phù hợp với ca mổ dự định
ban đầu, như vậy sẽ qúa liều gây hôn mê sâu đến chết. Đã có một bà ngoại quốc ở
Toronto bị ung thư cổ họng, mổ một lần rồi, bị tái phát. Trước khi đến chữa bằng
khí công, cổ bên trái nổi hạch to cứng đau, ăn hoặc nuốt không được, đầu cổ cứng
như thép không cúi ngửa hay quay phải quay trái. Khi cho bà nằm trên giường,
vuốt huyệt xong thì cổ mền, quay trái phải được, dạy cho bà tập thở, tự nhiên bà
nói rõ, có khí lực, rồi đứng tập động công, hát được bài one, two, three..., bà
ta rất vui mừng. Bà đã có thể điện thoại nói chuyện với bạn bè ở Montreal, nhờ
họ chuyển lời cám ơn của bà đến tôi, bà vẫn tiếp tục tự tập khí công ở nhà theo
sự chỉ dẫn. Thứ hai tuần sau bà lại gặp tôi trên Toronto, bà khoe cái cổ đã mền,
bướu nhỏ lại, nuốt hết đau, tôi vuốt và đè vào chỗ bướu cảm giác thấy nó còn nhỏ
bằng cúc áo nằm sâu dưới da, nhìn ngoài không thấy, tôi chữa cho bà lần thứ hai,
bà khỏe, ở lại ngồi chơi lâu với bạn bè khác đang chờ đợi đến lượt chữa. Khi tôi
trở lại Montreal làm việc, sáng thứ sáu tôi nhận được cú điện thoại của bạn bà
báo cho biết bà vừa chết xong lúc 10 giờ sáng sau khi mổ. Bà bạn kể, tối thứ năm
bà ấy còn gọi điện thoại khoe kết qủa của tập khí công, sáng thứ sáu là ngày hẹn
mổ, bà kể là bà thấy khỏi rồi, không muốn đi mổ, nhưng chồng bà là bác sĩ chuyên
khoa phổi, khuyên bà đi mổ, vì nếu bỏ hẹn, sợ ung thư di căn lên óc thì chết.
Thật sự cái chết của bà không phải do phẫu thuật, mà do liều thuốc gây mê không
đúng liều lượng với tình trạng mới của bệnh.
Những bệnh
nhân đến tôi chữa đa số là những người ở trong tình trạng chờ mổ, chữa khí công
cầu may chứ ngày mổ vẫn phải trở lại bệnh viện. Với kinh nghiệm ấy, tôi dặn bệnh
nhân phải yêu cầu bác sĩ khám lại trước khi mổ, do đó nhiều người tránh được
những rủi ro đáng tiếc, lại còn được các bác sĩ có tâm cởi mở, nói thật tình cho
bệnh nhân biết, cách cuối cùng của tây y là mổ, nhưng nếu bệnh nhân đã nhờ cách
khác được nhỏ lại thì cứ tiếp tục theo phương pháp đó.


05:36
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét