A. NGUYÊN TẮC TẬP THỞ BẰNG KHÍ CÔNG
:
Tập thở bằng khí công là điều chỉnh lại nhịp thở chậm,
nhẹ, sâu, lâu, đều một cách tự nhiên, để thúc đẩy khí huyết tuần hoàn đều đặn,
liên tục, lưu thông khắp cơ thể, sức khỏe sẽ được cải thiện, phục hồi nhanh
chóng. Theo quan niệm của khí công, các bệnh sở dĩ có là do tắc tuần hoàn khí,
tắc tuần hoàn huyết, tắc tuần hoàn tiêu hóa, bài tiết, hô hấp và tắc tuần hoàn
do biến đổi tâm lý thần kinh.
1.Tắc
tuần hoàn khí :
Như các bệnh khó thở, đau nhức phong thấp, đau bụng, đau
lưng, đau đầu, đau tứ chi, té ngã, va chạm, sưng phù, nay đau chỗ này, mai đau
chỗ khác, khi đau khi không, chụp hình xét nghiệm không bị tổn thương thực thể.
Chỗ đau do khí tắc đè ấn vào cảm thấy dễ chịu là chỗ đó thiếu khí không thông,
đè vào đau nhiều hơn là chỗ đó thừa khí tụ nghẽn lại. Như bệnh áp huyết thường
bị tắc khí ở sau gáy tụ lại thành một khối thịt làm huyết lên đầu không xuống
được sinh nhức đầu hoặc huyết xuống được mà lên đầu không được sinh chóng
mặt.
2.Tắc tuần hoàn huyết :
Huyết tắc do tổn thương thực thể, chụp
hình thấy được như đứt mạch, gẫy xương, dập bầm tím, máu vón cục, bệnh tắc khí
để lâu làm máu tụ lại một chỗ không thông lâu dần hóa vôi, xương, khớp, gân, sụn
mất nuôi dưỡng bị khô cứng làm đau, hoặc trong tạng phủ bị tổn thương, viêm
nhiễm, ấn đè vào thấy đau ở một chỗ cố định.
3.Tắc tuần hoàn tiêu hóa ,
bài tiết, hô hấp :
Không phải là tắc tuần hoàn khí, mà không đủ khí co bóp
bao tử và nhu động ruột để tiêu hóa thức ăn. Khi thức ăn bị giữ lại lâu trong
bao tử và đường ruột sẽ gây bệnh, ăn thêm sẽ mệt tim, khó thở, bị ói, bao tử
không chuyển hóa thức ăn sẽ lên men, làm đầy, nóng, ợ chua, loét, lên cơn sốt,
tắc hạ vị, đường ruột nếu còn mạnh sẽ tống phân ra thành bệnh tiêu chảy, hoặc
phân khô có lẫn máu, hoặc đường ruột yếu không đủ sức đẩy phân ra sinh táo bón
..Thức ăn chứa lâu trong bao tử sẽ trở thành độc tố phát sinh ra vi trùng và độc
tố thấm vào máu hại thần kinh.
4.Tắc tuần hoàn tâm lý thần kinh :
Do
quan niệm sai lầm, cố chấp, bảo thủ, chỉ tin vào phương pháp này mà không tin
vào phương pháp kia, khi bị bệnh chỉ tin vào xét nghiệm y khoa, cho nên có loại
bệnh do vi trùng, nếu tây y đã có kinh nghiệm chữa trị thì việc chữa trị rất dễ
dàng, có những vi trùng lạ hoặc những loại bệnh không do vi trùng làm ra thì tây
y chưa có kinh nghiệm đành bó tay. Thực ra khi chưa có phương pháp của tây y
hiện đại, còn rất nhiều các phương pháp cổ điển khác gọi là y học cổ truyền của
nhiều nước khác nhau đã từng áp dụng trong điều trị cho dân chúng, mỗi quốc gia
đã tích lũy được những kinh nghiệm qúy báu hàng thế kỷ mà đối với tây y vẫn ngần
ngại chưa chấp nhận, vì không hệ thống hóa cho logique được.
Thí dụ bệnh
kẹt khớp ngón tay 3-4 gấp vào được ,mở ra không được, phương pháp đông y chịu
thua, phương pháp tây y phải mổ, nhưng phương pháp cổ truyền của dân tộc Lyban
dùng qủa cầu gai sắt lớn hơn hòn bi, kẹp vào giữa hai lòng bàn tay lăn trong nửa
giờ ở trong xô nước nóng, (hay nước nóng trong lavabo), sau đó ngón tay cử động
dễ dàng như bình thuờng không phải mổ.
Thí dụ khi bị muỗi lạ cắn lên cơn
sốt, kinh nghiệm dân gian cho uống nước nhiều để giải nhiệt, chúng ta gọi là các
thầy mo, thầy nước lạnh. Thực ra nếu chịu khó dùng khoa học giải thích, chúng ta
thấy hợp lý, nếu chúng ta xét nghiệm máu thì có thể là vi trùng sốt rét, có thể
là vi trùng sốt xuất huyết, nếu đã có vi trùng mà chưa kịp tìm ra thuốc đúng để
chữa, vi trùng sẽ sinh sôi nẩy nở theo cấp số nhân, số lượng vi trùng trong máu
qúa nhiều, lên não làm hại thần kinh khiến sốt mê man. Bệnh nhân cần phải cho
uống nước nhiều làm loãng máu, vừa giải được nhiệt theo ra bằng đường mồ hôi vừa
đi tiểu được nhiều, loại được một phần vi trùng theo đường tiểu ra ngoài. Mỗi
ngày uống khoảng 3-4 lít nước chia làm nhiều lần trong thời gian một tuần, sốt
sẽ giảm, vi trùng ít đi dần cho tới hết và sức đề kháng của cơ thể được phục hồi
giúp bệnh mau lành .Áp dụng phương pháp này đối với tây y cũng không phải là
không hợp lý.
Theo thống kê, tây y có thể cho biết một căn bệnh ung thư
khi hết cách chữa, bệnh nhân còn có thể sống được bao nhiêu thời gian, đó là lý
thuyết, rất chính xác khi bệnh nhân có tinh thần thụ động chán nản không còn hy
vọng, vì họ tin rằng khoa học đã bó tay. Tinh thần bệnh nhân bi quan sợ sệt, khi
nghe bản án tử hình do kết luận của y khoa hiện đại, có thể bệnh nhân sẽ chết
sớm hơn dự định vì lo sợ làm tắc khí huyết tuần hoàn trong cơ thể nhanh hơn. Còn
đối với những người có tinh thần lạc quan, bình thản, coi thường sống chết,
trước khi chết họ nghĩ là phải làm cái gì đó có ích lợi cho người khác như viết
lại những gì kinh nghiệm của họ trong đường đời, hay dùng tiền của khi chết
không đem theo được giúp kẻ cô nhi, người tàn tật, họ có ý sinh tồn mạnh, họ
nghĩ rằng thời gian sống không còn bao nhiêu, họ phải duy trì mạng sống để tiếp
tục làm những điều có ích, nên bất cứ một phương pháp chữa bệnh nào khác như
châm cứu, thuốc cây cỏ, khí công, tu thiền, võ thuật, sinh hoạt từ thiện, hoặc
tịnh tâm dưỡng thần nơi vùng núi vùng biển, đi du lịch khắp nơi cho thỏa chí
trước khi chết, họ ăn kiêng, ăn các món ăn theo phương pháp macrobiotique, hay
bất kỳ một phương pháp nào để dành lại mạng sống, và những phương pháp ấy không
thuộc lãnh vực tây y, nếu khỏi bệnh, tây y cho là một phép lạ.
Theo tây
y, tất cả phải xét nghiệm bằng máy móc, dụng cụ cân đo đong đếm chính xác, nhưng
nếu ảnh hưởng tâm lý thần kinh tác động làm thay đổi tuần hoàn khí huyết cũng
làm thay đổi được số liệu đã xét nghiệm của tây y. Như vậy thần kinh làm chủ cơ
thể vật chất chứ không lệ thuộc vào cơ thể vật chất. Một thí dụ dễ hiểu, một căn
nhà ọp ẹp cũ nát, các kỹ sư, kiến trúc sư dùng máy móc đo sức bền vật liệu của
nền, móng, tường, vách tìm ra số liệu an toàn và tuổi thọ căn nhà qúa tệ, chỉ
hai năm sau là xập đổ.Tất cả mọi máy móc khoa học thử đều đúng giống nhau, không
ai nói sai khác được. Đó là cơ sở vật chất tồi tệ, điều đó đúng, nếu căn nhà vô
chủ, giống như con người bị hỏng bộ thần kinh chỉ huy sự sống của cơ thể. Còn
khi căn nhà có chủ, khoa học nói vậy biết vậy, cứ hư đâu, chủ nhà sửa đến đó để
ở tạm, bao giờ xập sẽ hay không cần phải lo lắng bi quan, hư vách sửa vách, hư
cửa sửa cửa, hư tường thì chống, hư cột nhà thì thay, nền nhà nhiều hang lỗ thì
đổ thêm đất đắp nền.. cứ thế căn nhà hiện nay vẫn còn tồn tại đến đời con cháu
qua được mấy chục năm, thậm chí cả trăm năm. Cho nên các bệnh nan y như ung thư
cũng thế, đông y tuy không có phương pháp chữa ung thư, nhưng khi khám mạch chẩn
bệnh, thấy gan yếu chữa gan, mai thấy phổi yếu chữa phổi, mốt thấy tim yếu chữa
tim, thấy thiếu máu bổ máu, thiếu khí thì bổ khí, mất ngủ làm cho ngủ, ăn không
được làm cho ăn được..tất cả các điều chỉnh đó giống như căn nhà trên cứ áp dụng
phương pháp sửa chữa nhỏ hết cái này đến cái khác, tuổi thọ sẽ được kéo dài hơn
nhiều nếu tâm lý thần kinh không bị bi quan chán đời .
Bởi lối xét nghiệm
chính xác của tây y mà không tìm ra được thuốc chữa, vô tình đã làm cho con
người hoảng sợ trước hai căn bệnh nan y mà tây y bó tay là ung thư và sida.
Nhưng thực ra khi bệnh nhân chết không phải do bệnh chính, mà do thuốc hành hạ
đau đớn, ngộp thở mà chết. Có một căn bệnh rõ ràng là ung thư mà không chữa cũng
chẳng sao, như ở Việt nam có những người ăn xin đeo cả trăm bướu lớn nhỏ lủng
lẳng trên mặt trên mình mẩy, chân tay, không thể nào cắt mổ tất cả được, cắt
rồi, nó mọc lại không có cách chữa, nhưng bệnh nhân không bị hù dọa là ung thư,
cứ tỉnh bơ sống ăn xin qua ngày, không lo ung thư, có chí sinh tồn, chỉ lo sợ
chết vì đói , việc xin ăn để sống là quan trọng hàng đầu trong cuộc sống của
họ.
Ngay cả bệnh cùi cũng là một dạng của ung thư, nhưng không cho là ung thư
nguy hiểm thì tâm lý thần kinh của bệnh nhân vẫn bình thản không sợ sệt. Còn các
vị nữ tu sĩ săn sóc những bệnh nhân cùi không sợ và cũng không bị lây nhiễm bệnh
vì có tâm lý thần kinh mạnh, có đức tin, họ vui vẻ chấp nhận con người ai mà
không chết, khi Chúa gọi là về, theo Phật giáo tiểu thừa thì nghiệp đến phải
chấp nhận trả vui vẻ, theo Phật giáo đại thừa thì chủ động tích cực, phải tự cải
nghiệp thành tốt, khi nghiệp đến phải trả sẽ được nhẹ hơn. Thí dụ như lừa đảo để
cướp giựt tài sản của một người bạn để làm giầu, người bị lưà thù hận tìm họ để
giết, còn họ với tâm tham, lo làm giầu đâu có nghĩ đến nỗi khổ cực của người bị
họ hại, một thời gian sau họ dư dả tiền bạc có danh giá địa vị mới biết ăn năn,
muốn tìm kiếm lại bạn để trả nợ và đền bù lại những thiệt thòi mà bạn mình phải
gánh chịu. Ngược lại, kẻ bị lừa đâu có biết họ đã ăn năn, cứ xem họ là kẻ thù
không đội trời chung chỉ muốn tìm họ đâm cho chết mới hả dạ. Họ có hai thái độ
khi bất ngờ gặp lại nhau .Nếu bỏ chạy là không vui vẻ chấp nhận trả nghiệp,
nghiệp vẫn đến ,họ bị kẻ thù tức giận đâm chết. Còn một thái độ vui vẻ chấp nhận
trả nghiệp, họ chủ động đến gặp bạn xin tha lỗi vì lòng tham mù quáng, nói cho
tất cả mọi người xung quanh biết lỗi lầm của mình, và nhờ có số tiền của bạn mới
dựng nên cơ nghiệp ngày nay, nay xin giao lại tất cả trả cho bạn để chuộc lỗi.
Như vậy nghiệp vẫn đến nhưng không đến nỗi bị bạn đâm chết, cho nên Phật giáo
đại thừa dạy sám hối, làm điều lành, có lòng vị tha giúp đỡ kẻ nghèo vật chất
lẫn tinh thần không mong cầu báo đáp, lấy đó làm niềm vui tinh thần thì thân dù
có bệnh nan y bất trị nhưng tâm lý thần kinh không xao động vẫn có thể kéo dài
tuổi thọ.
Theo lý thuyết của khí công, khi cơ thể có bệnh như đau đớn, sốt
mệt, suy nhược, tâm lý thay đổi, vui buồn, sợ sệt, lo lắng.. đều làm thay đổi
nhịp thở sinh học khác với bình thường. Trung bình một người khỏe mạnh, có hơi
thở đều đặn tạo nhịp thở sinh học là 18 hơi (thở vào thở ra) trong một phút. Khi
thở ngắn hơn, dồn dập, nhịp thở sinh học sẽ trên 18 hơi, như 20, 30, 40 hơi
trong bệnh suyễn, càng nhiều càng đứt hơi đến chết.
Dùng khí công tự chữa
bệnh là luyện cách tập thở với nhịp sinh học dưới 18 hơi một phút, trung bình
khoảng 6-12 hơi một phút được chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, tự nhiên không gò bó
không ngộp thở. Thở tự nhiên mà chậm phải có sự hợp tác của ý, dùng tinh thần và
tâm trí để theo dõi hơi thở gọi là khí công thiền.
B. LỢI ÍCH CỦA TẬP THỞ KHÍ CÔNG (KHÍ CÔNG
THIỀN ):
Theo tài liệu của Bác sĩ Nguyễn tối Thiện thuộc
nhóm Nghiên cứu và thực hành thiền quán ở Pháp thì thiền làm lắng đọng vọng
tưởng, vọng niệm, thành kiến, ký ức, lo buồn sợ hãi, và tỉnh thức sáng suốt để
ghi nhận trực tiếp tất cả những nguồn rung động bên ngoài và bên trong cơ thể.
Tâm thức lúc đó đạt tới một trạng thái tự do tuyệt đối không bị vẩn đục bởi
phiền não, chấp ngã, chúng ta sẽ khám phá ra được một thế giới nội tại bình
an.
Khoa học đã ghi nhận được sự thay đổi của sóng não trong 4 giai đoạn
:
-Giai đoạn sóng Beta 13-20 hertz khi làm việc.
-Giai đoạn sóng Alpha
8-13 hertz khi nghỉ ngơi.
-Giai đoạn sóng Theta 4-7 hertz khi thiền còn tỉnh
thức, nó cũng là giai đoạn buồn ngủ, hôn trầm.
-Giai đoạn sóng Delta 1-3
hertz là giai đoạn ngủ sâu.
Quan sát hơi thở một bệnh nhân nằm thở bình
thường qua nhiều giai đoạn :
a-Giai đoạn chưa tập trung ý vào hơi thở ( sóng
beta ):
Hơi thở không đều, ngắn hơi, nhanh, đứt đoạn, đếm được 20-30 hơi
trong 1 phút.
b-Giai đoạn thở đều (sóng alpha ):
Hơi thở đều, ngắn,
nhẹ, nhanh, cũng nhịp 20-30 hơi trong 1 phút.
c-Giai đoạn tập thở có ý
thức, có kiểm soát ( sóng theta ):
Khi mới tập, hơi thở chưa đều nhưng thở
sâu và lâu hơn, số lần thở giảm đi trong nửa giờ đầu. Nếu còn tiếp tục tỉnh táo
tập thở, số lần thở sẽ giảm nữa, khoảng 12 -16 hơi. Ngược lại, nếu rơi vào hôn
trầm ( mê đi mà không hay biết )sẽ đi vào giấc ngủ ngon. Sóng Theta xuất hiện
trên điện não đồ, tâm được bình an, thần kinh và gân cơ thư giãn, giảm co thắt
đau nhức. Nếu xét nghiệm hàm lượng lactose trong máu khi ngủ sẽ giảm so với lúc
thần kinh bị căng thẳng, khi xáo trộn tâm lý, hàm lượng lactose trong máu tăng
cao.
d-Trong trạng thái còn tỉnh thức để theo dõi hơi thở, sẽ trở thành
thói quen đều đặn, sẽ tạo được nhịp thở sinh học 6-8 hơi trong 1 phút, giúp khí
huyết lưu thông đều, sự tiêu thụ năng lượng sẽ giảm, không bị tiêu hao lãng phí,
sự biến dưỡng căn bản (métabolisme basal ) xuống mức tối thiểu, ăn ngủ ít mà vẫn
khỏe như các vị thiền sư.
e-Giai đoạn ngủ :
Sau khi tỉnh thức để theo
dõi hơi thở ở giai đoạn sóng Theta, có được nhịp thở sinh học 6-8 hơi trong một
phút thì khi ngủ nhịp thở sinh học 6-8 hơi vẫn được duy trì. Đây chính là giai
đoạn chữa bệnh bằng giấc ngủ có ý thức.
Các nhà Yoga khi ngủ, chúng ta
thấy hình như không thở, vì hơi thở rất nhẹ, hơi vào như sợi chỉ chứng tỏ số
lượng oxy vào ít, nhưng thiền, sự tiêu thụ oxy trong cơ thể còn ít hơn so với
khi ngủ, cho nên 1 giờ thiền có gía trị bằng 2-3 giờ ngủ, và chúng ta cũng có
thể giải thích tại sao các nhà yoga có thể giam mình trong một hòm kín mà không
chết ngộp. Điều đó chứng tỏ tập khí công thiền làm cho nhịp tim chậm lại, làm
giảm trương lực cơ và làm giảm áp huyết.
Những kết qủa nghiên cứu của Đại
học Harvard, Tokyo, và ở Viện Khí công trị liệu Trung quốc, cho thấy khí công có
thể chữa được các bệnh sau đây :
1.Bệnh tim mạch :
Như áp huyết cao,
thất nhịp tim do thần kinh ( arythmie cardiaque d’origine nerveuse ),phong thấp
các van tim ( rhumatisme valvulaire cardiaque), bệnh huyết kết tĩnh mạch
(thrombophlébite ).
2.Bệnh thần kinh :
Như thần kinh suy nhược
(dépression nerveuse ), bệnh tâm thể (maladie psycho-somatique ),loạn trương lực
thần kinh thực vật (dystonie neuro-végétative ), tạng co giật (spamophilie
),chứng ưu tư (anxiété ),loạn tâm thần ám ảnh (névrose obsessionnelle ), đau
nhức do thần kinh ( douleurs nerveuses ou d’origine mal définie ), đau dây thần
kinh ( névralgie faciale, intercostale ),viêm dây thần kinh ( névrite,
polynévrite ).
3.Bệnh tiêu hóa :
Như ăn uống không tiêu, no hơi sình
bụng, ợ chua, bón kinh niên, loét bao tử và ruột non ( ulcère gastro duodénal )
, viêm bao tử kinh niên ( gastrite chronique ), viêm ruột mãn tính ( entéro
colite chronique ), viêm gan mãn tính ( cirrhose du foie), viêm túi mật (
cholécystite).
4.Bệnh hô hấp :
Như viêm phế quản kinh
niên, suyễn, thở khó.
5.Bệnh phong thấp :
Đau nhức xương khớp, bắp
thịt, gân cốt.
6.Bệnh bần huyết, thiếu máu ( anémie ).
7.Bệnh sinh
dục, tiết niệu :
Như bất lực (impuissance), xuất tinh sớm
(éjaculationprécoce), di tinh(spermatorré), đau bụng huyết ( dysménorrhée
)
8. Bệnh giác quan :
Như viêm võng mạc ( rétinite ), teo thần kinh
thị giác (atrophie optique ), mất thể thăng bằng ( trouble d’équilibre ), suy
thị giác và thính giác không do chấn thương.
9. Bệnh da kinh niên (
psoriasis, eczéma..)
10.Tăng sức đề kháng của cơ thể, hệ miễn nhiễm, hệ
nội tiết chống lại sự xâm nhập của vi trùng và sự khắc nghiệt của thời tiết, môi
trường.
11.Tuổi thọ được kéo dài :
Người bình thường cho đến già vẫn
thở 18 hơi trong một phút sẽ sống thọ 100 năm, con rùa thở 2 hơi trong một phút,
tuổi thọ của nó được 300 năm. Khi tập thở khí công, hơi thở càng chậm thì tuổi
thọ càng tăng, hơi thở càng nhanh thì tuổi thọ càng giảm.
12. Theo nhận
xét của Bác sĩ Ngô gia Hy:
Trước khi tập khí công, cho các học viên thử máu
để đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu, sau khi tập một tuần, rồi hai tuần, ba tuần,
rồi tập luyện tiếp tục đều đặn. Số lượng hồng cầu tuần đầu tăng vọt, kết qủa
thấy tập thở khí công rất có lợi, tuần hai, hồng cầu giảm xuống một ít, tuần ba
giảm một ít nữa xuống đến mức ổn định kéo dài, hơn số lượng ban đầu 5-10%, số
lượng bạch cầu cao nếu cơ thể có bệnh được giảm xuống, hoặc số lượng bạch cầu
thấp sẽ được tăng lên, cuối cùng bạch cầu được ổn định trong tiêu
chuẩn.
C. CÁCH TẬP
LUYỆN HƠI THỞ THEO KHÍ CÔNG
1.Chuẩn bị
:
Trước khi đi ngủ, không uống nước, đi tiêu, tiểu và tắm rửa với nước ấm
nóng cho người khỏe khoắn, mặc quần áo rộng. Nằm ngửa thẳng người, đầu không kê
gối, chụm hai gót chân, cuốn lưỡi lên vòm họng trên, ngậm miệng bình thường
không để người ngoài thấy biết được bộ dạng của mình đang cuốn lưỡi ngậm miệng,
mặt bình thản. Tập thở ra hít vào đều bằng mũi để nối mạch âm dương Nhâm-Đốc,
trong khi tập nước miếng trào ra thì nuốt vào , không bị khô cổ, miệng có nước
miếng không bị hỏa dồn lên làm đau khô cổ họng và làm tẩu hỏa nhập ma ( dư hỏa ở
bộ đầu làm hại thần kinh thành điên cuồng ).
Đặt bàn tay lên hai điểm
quan trọng là đan điền thần, (điểm quy tụ hỏa khí, giữa mỏm xương ức ), và đan
điền tinh (dưới rốn chừng 3-5 cm). Đàn bà đặt bàn tay phải lên đan điền thần,
đàn ông đặt bàn tay trái lên đan điền thần, tay kia đặt lên đan điền
tinh.
2.Tập nghe hơi thở :
Hai mắt nhắm lại, tai chú ý lắng nghe nơi
bụng dưới rốn chỗ đặt bàn tay nơi đan điền tinh. Theo dõi trong thầm lặng, hơi
thở bình thường tự nhiên, không cố ý hít vào thở ra, chỉ theo dõi hơi thở tự
nhiên nó vào nó ra làm sao. Khi thở vào chúng ta cảm thấy bụng phồng lên nhẹ,
trong đầu ghi nhận là phồng, khi hơi thở ra ta cảm thấy bụng xẹp xuống, trong
đầu ghi nhận là xẹp. Cứ để cho tâm tĩnh lặng theo dõi phồng xẹp chừng 5-10 phút
cho quen và cảm nhận được hơi thở vào ra phồng xẹp rõ ràng, sau đó chuyển sang
giai đoạn kiểm soát hơi thở.
3.Kiểm soát hơi thở :
Nhắm mắt, cuốn
lưỡi, ngậm miệng, hít thở bằng mũi tự nhiên. Bắt đầu quan sát và kiểm soát hơi
thở bằng cách đếm thầm trong đầu. Khi bụng phình lên, ta ghi nhận trong đầu là
phồng, khi bụng xẹp xuống ta ghi nhận trong đầu là xẹp rồi đếm 1 lần, tiếp tục
phồng-xẹp 2, phồng-xẹp 3, phồng-xẹp 4, phồng-xẹp 5, phồng-xẹp 6, phồng-xẹp 7,
phồng-xẹp 8, phồng-xẹp 9 ,phồng-xẹp 10. Rồi trở laị phồng-xẹp 1 đến phồng-xẹp 10
nhiều lần.
4.Tập thở khí công thành thói quen hằng ngày :
Nếu chúng ta
tập cho hơi thở tạo ra được nhịp thở sinh học đều lúc thức làm việc cũng như lúc
ngủ, lúc nào cũng chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, tự nhiên không gò bó ngộp thở, giúp
cho tuần hoàn khí huyết lưu thông đầy đủ sẽ tránh được nhiều bệnh, và khi có
bệnh cơ thể tự chữa sẽ mau hồi phục. Muốn được như thế, chúng ta có hai cách áp
dụng như sau:
a.Cách thứ nhất :Tạo ra nhịp thở sinh học 5-5. ( một phút
thở 6 hơi ).
Dùng ý của hai câu :
Thở, vào, tâm, tĩnh,
lặng.
Thở, ra, miệng, mỉm, cười
để theo dõi và
kiểm soát hơi thở .Hơi thở tự nhiên, nhưng khi thở vào, trong đầu nghĩ thầm theo
câu thở, vào, tâm, tĩnh, lặng , khi bắt đầu thở ra, trong đầu thầm nghĩ câu thở,
ra, miệng, mỉm, cười. Tập cho câu phải trùng đúng với hơi thở không nhanh qúa,
không chậm qúa. Khi tập được trùng với nhau, thì nhìn đồng hồ sao cho mỗi chữ
cách nhau 1 giây cho thành thói quen 5 chữ mất 5 giây, như vậy, nhịp thở sinh
học thở vào 5 giây, thở ra ra 5 giây, liên tục, đều đặn, không ngừng nghỉ, một
cách tự nhiên trong lúc làm việc cũng như lúc ngủ.
b.Cách thứ hai : Thở
ra nhiều hơn thở vào ,tạo ra nhịp thở sinh học 7-3.( một phút thở 6 hơi
).
Dùng một bài hát 7 nốt nhạc đều, không cao qúa, không thấp qúa, người
không biết hát cũng có thể hát được, chẳng hạn như 7 nốt la như sau :
Câu 1 :
La, la, là, la, lá, la, là
Câu 2 : La, la, là, la, lá, la, là
(nốt
nhạc)
La la là la lá la là La la là la lá la là
Cuốn lưỡi lên vòm họng
trên, ngậm miệng, hát bằng mũi câu 1 (ư,ư,ừ,ư,ứ,ư,ừ ) khi hát tức là đang thở ra
mỗi nốt là 1 giây, 7 nốt mất 7 giây, sau đó hít vào bằng mũi để lấy thêm hơi
chuẩn bị hát câu 2, thời gian hít vào khoảng 3 giây, hít vào xong,( lúc nào cũng
ngậm miệng cuốn lưỡi) hát tiếp câu 2 (ư,ư,ừ,ư,ứ,ư,ừ ). Tăp thở bằng cách hát
bằng mũi liên tục, đều đặn, chậm, nhẹ, nếu còn trong tình trạng tỉnh thức kiểm
soát hơi thở , đó là lúc đang chữa bệnh giúp khí huyết lưu thông khắp cơ thể,
tăng oxy cho huyết và não bộ, thần kinh gân cơ được thư giãn hoàn toàn. Nếu mất
tỉnh thức, rơi vào hôn trầm buồn ngủ thì tiếng hát từ từ nhỏ dần ,quên hát, thần
kinh hoàn toàn thư giãn đi vào giấc ngủ sâu, nhưng nhịp thở sinh học vẫn đều 6
hơi trong một phút .
5-KẾT QỦA :
Chúng ta đừng chán nản, đừng xao
nhãng để tâm trí ra bên ngoài bụng ,như tự nhiên ý nghĩ đến chuyện khác, nghĩ
đến tiếng động ồn ào bên ngoài, phải tập trung vào bụng khi phồng-xẹp, cho dù có
phải đếm thầm đến mấy ngàn lần, vì càng đếm nhiều thì càng tự chữa được bệnh mau
khỏi. Chúng ta hãy phân tích kết qủa hai trường hợp sẽ xẩy ra trong lúc tập
:
a.Nếu tiếp tục tỉnh thức đưa thần kinh vào trạng thái thư giãn hoàn toàn,
cơ thể cảm thấy nhẹ, như mình đang nằm trên một cái giường bằng phao trên mặt
biển, trôi nhẹ, êm đềm, trên mặt nước không có sóng, mắt nhìn trời trong xanh
,sáng sủa, quang đãng không gợn mây, mình còn biết mình đang thở phồng-xẹp rất
nhẹ ,quên đếm, rơi vào trạng thái quên thở mà vẫn cảm giác động mạch bụng vẫn
đập lớn và đều đặn chậm, danh từ chuyên môn gọi là thai tức ( như bào thai trong
bụng mẹ thở bằng nhịp đập mạch máu của người mẹ truyền qua rốn nhau, mà thai nhi
không cần phải hít oxy bằng mũi ).Tập được ở trạng thái này quen, sẽ không còn
nghe những tiếng động chung quanh, quên cả thời gian, không gian, danh từ chuyên
môn của thiền gọi là nhập định ,cho nên các vị thiền sư ngồi thiền nhập định
không hẳn là cần phải nằm ngủ mà vẫn khỏe mạnh, không mất ngủ, vì 1 giờ thiền
tỉnh thức tương đương với 2-3 giờ ngủ bình thường, nếu tiếp tục tập luyện để
nhập định dễ dàng, nhanh, sẽ đạt được nhập đại định sang một cảnh giới khác,
tinh thần trở nên minh mẫn, trí nhớ dai, thông minh hơn, mặt sáng sủa, hồng hào
khỏe mạnh và trẻ trung hơn xưa.
b.Nếu đi vào hôn trầm, do tập chưa quen,
hoặc cơ thể bị bệnh, thần kinh đòi hỏi phải được thư giãn nghỉ ngơi, lúc đó mặc
dù mất kiểm soát phồng-xẹp, nhưng nhịp thở sinh học vẫn được duy trì, giống như
khi đưa võng dỗ cho một đứa trẻ ngủ bằng điệu hát ru, đứa trẻ sẽ thở theo nhịp
sinh học tạo bởi hai yếu tố võng đu đưa và lời ru, khi nó ngủ, nó vẫn trong
trạng thái bồng bềnh của của võng và âm vang của lời ru, mặc dù lúc đó võng và
lời ru ngừng hẳn. Ở tình trạng này, tất cả mọi xáo trộn của cơ thể do bệnh, hay
do thuốc kích thích làm xáo trộn thần kinh, như quá hưng phấn, qúa ức chế trầm
cảm,đều trở lại bình thường không dương không âm, thần kinh tự điều chỉnh để
chữa bệnh. Có lợi làm giảm đau đớn thấy rõ nhất trong các bệnh ung thư, đau nhức
do mổ xẻ hoặc đau nhức phong thấp.


05:46
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét