Cả
hai phương pháp khoa học và cổ điển đều có ưu điểm là chính xác nhưng khuyết
điểm là tốn kém tiền bạc thời giờ và mất nhiều máu để thử nghiệm theo tây y,
hoặc khuyết điểm của đông y là không có nhiều thầy thuốc kinh nghiệm bắt mạch
giỏi phân biệt được rõ ràng những biến đổi âm dương mất quân bình trong cơ thể
qua sự chẩn đoán bằng mạch. Do đó đông y cổ đại đã bổ sung phương pháp chẩn đoán
bệnh bằng huyệt, mỗi tên huyệt cũng đã nói lên được chức năng chuyển hóa âm
dương, khi bấm vào huyệt cảm thấy đau nhiều là bệnh thực, không đau là bệnh
hư.
1-Tăng
ngấm nước trong tế bào.
2-Giảm
áp lực thẩm thấu trong huyết tương, có dấu hiệu lâm sàng như : chán ăn uống,
buồn nôn, ói mửa, nhức đầu, suy nhược, rối loạn tâm thần, xét nghiệm thấy giảm
natri-huyết.
3-Máu
loãng protid-huyết giảm.
4-Thiếu
Natri do ăn nhạt, kiêng khem, uống nhiều nước làm giảm natri huyết và làm loãng
máu sinh chán ăn, kiệt sức, phù não do rối loạn mất cân bằng điện giải, rối loạn
thần kinh gây co giật .
5-Bệnh
thận thoát mất Natri do điều trị sai lầm trong các bệnh viêm thận, bể thận mạn,
thận đa u nang.
6-Bệnh
ứ nước do cung cấp thừa nước hoặc thừa dung dịch Glucoza, cho uống nước trong
khi có bệnh suy thận giảm niệu.
7-Thận
suy, mất muối do lạm dụng thuốc lợi tiểu,
8-Thận
ứ nước.
9-Dư
thừa hormon kháng lợi tiểu, hội chứng cận ung thư do tăng tiết hormon kháng lợi
tiểu, áp suất thẩm thấu cao, bài niệu natri qúa mức.
10-Suy
thượng thận Natri giảm, Kali tăng
11-Bệnh
đi tiểu đêm nhiều lần .
12-Bệnh
tuyến tiền liệt .
13-Bệnh
thận kẽ tổn thương đường niệu
14-Tràn
dịch màng phổi .
15-Bệnh
suyễn, khó thở, nhiều đàm
16-Ung
thư phế quản với tế bào nhỏ tiết một chất kháng lợi tiểu giống như pitressin
17-Qúa
tải nước làm rối loạn chất điện giải.
18-Bệnh
tắc ruột
19-Bệnh
tiêu chảy do dư nước
20-Liệt
ruột, phình ruột, sưng háng, đã có một bệnh nhân phải cắt bỏ 40cm ruột già,
nhưng không được cho biết nguyên nhân do mỗi lần uống nước với số lượng nhiều
vượt qúa sức chứa của trực trường, tiếp tục uống nhiều nước làm xệ ruột , bụng
dưới to chèn ép đông mạch háng , khiến chân trái phù đầu gối có nước phải mổ đầu
gối, một năm sau cắt thêm một đoạn ruột bị trương phình chỗ nối, lại vẫn tiếp
tục uống nhiều nước, sau có người giới thiệu đến tôi chữa chân gối đau đi không
được . Tôi mới cho biết nguyên nhân bệnh là do uống nhiều nước, bà ta nói sắp đi
mổ làn thứ ba, nhưng bác sĩ cho biết đoạn ruột sát hậu môn qúa không thể nối
được sẽ cho đeo túi bên hông . Tôi chỉ cho bà đứng Ngũ hành tấn, và uống nước
trà có chất chát cho săn ruột, mỗi lần 1 chung nhỏ thay vì uống 250cc một lần .
Cách đây hơn 10 năm bà đã khỏi, tiêu hóa tốt, bụng săn lại, nhu động ruột đàn
hồi tốt, không phải bị mổ lại lần thứ ba nữa.
Hiện
nay ở phòng mạch của tôi đa số bệnh nhân người ngoại quốc có những bệnh này do
uống nhiều nước đều phải tập khí công và bớt uống nước để khỏi phải mổ ruột oan
uổng.
21-Suy
tuyến giáp
22-Chấn
thương sọ não có bọc máu dưới màng cứng, khốu u não, viêm não, tăng áp lực sọ
não.
23-Rối
loạn chuyển hóa
24-Ung
thư tuyến tụy, tuyến ức, sacrome-lưới.
25-Bệnh
suy tim, tim thòng .
26-Bệnh
thiếu hồng cầu.
27-Bệnh
áp huyết thấp .
28-Giảm
trương lực cơ, chán ăn, buồn nôn, đau thượng vị .
29-Tim
đập nhanh ngoại tâm thu, điện tâm đồ T dẹp, ST ngắn.
30-Viêm
động mạch vành
31-Tăng
năng tuyến cận giáp nguyên phát
32-Ứ
nước do Xơ gan cổ trướng
33-Hội
chứng thiếu dinh dưỡng sau khi cắt bao tử có tình trạng phù, giảm protid-huyết,
tiêu chảy đi phân mỡ, thiếu máu
34-Chán
ăn do rối loạn thể dịch làm tăng ure-huyết, giảm natri-huyết, tăng
calci-huyết
35-Viêm
tụy mạn, ung thư tụy có dấu hiệu đau thượng vị, nặng bụng, đau thắt ngang lan
tỏa ra sau lưng.
36-Bệnh
tim phổi mạn tăng áp lực động mạch phổi.
37-Đau
hạ sườn trái do viêm tụy cấp hay do cơn đau căng phình kết tràng sau bữa ăn hay
do viêm thận ứ nước
38-Viêm
tai, có nước trong tai .
39-Rối
loạn nhịp tim do dư nước, do van tim, ở người mập nước .
40-Natri-niệu
thấp dưới 20mEq/24 tiếng do chế độ ăn nhạt, ói mửa tiêu chảy vã mồ hôi , xơ gan,
giảm niệu kèm với dấu hiệu qúa tải nước
41-Phù
hai chi dưới do phù tim bởi gan to, phổi ứ đông nước, phù thận kèm với
albumin-niệu, xơ gan cổ trướng.
42-Phù
phổi do qúa tải nước, thừa nước và muối do truyền dư thừa sérium nhất là ở người
bệnh thận hay ở người cao áp huyết.khiến tim đập nhanh qúa mức.
43-Phù
toàn thân do phù tim, suy tim toàn bộ hay suy tim phải, viêm màng ngoài tim co
khít, phù thận chiếm ưu thế ở mặt, viêm thận tiểu cầu cấp, hội chứng hư thận,
suy thận mãn do dư nước,suy dinh dưỡng kèm với nhịp tim đập chậm, thân nhiệt
giảm kém hấp thụ, dư nước làm chán ăn.
B-Những
bệnh không được uống nhiều nước theo mạch chẩn của đông y :
1-Mạch
Trì : mạch đi chậm, 1 hơi thở mạch đi chập 1-3 lần, thuộc bệnh dương hư, lý hàn
trong và ngoài cơ thể lạnh
2-Mạch
Vi : Mạch đi nhỏ li ti không rõ chỉ như sợi tơ nhện nghe như khi có khi không,
thuộc bệnh khí huyết đều hư, bệnh đang phát, hàn khí kết đọng dưới rốn nổi cộm
đau.
3-Mạch
Hoạt : Mạch chạy trơn tru như kéo 1 chuỗi hạt chạy qua tay, thuộc bệnh huyết và
dịch chất nhiều nhưng khí trê làm ứ đọng sinh đàm, ho hắng, ăn vào thấy đầy
.
4-Mạch
Phục : Mạch đi ẩn nấp, ấn sát tay đến tận xương mới nghe thấy, thuộc bệnh âm
dương bất giao thường làm đau bụng, lúc ói mửa lúc đi tiêu chảy .
5-Mạch
Kết : Mạch đang đi bị nghẽn đi chậm lại khó khăn, thỉnh thoảng phải ngừng lại
một cái , thuộc bệnh âm tà thịnh hơn dương tà, nội tà đọng lại thành tích
kết.
6-Mạch
Tán : Mạch thốn ở Nhân nghinh vừa phù, đại, đời, nhu . Ở khí khẩu vừa phù, sắc,
đời, đại , thuộc bệnh tà khí thịnh làm thoát khí huyết .Mạch tán ở Nhân nghinh
là tà khí thoát ra, ở khí khẩu là khí của tạng phủ mất, đaị tiểu tiện không cầm,
chân tay gía lạnh, người xám lợt có thể chết.
7-Mạch
Trầm vô lực :Bệnh khí uất không thông làm thủy thủng, phù nước đọng không tiêu,
ngực đây nghẹn, bụng có hòn cục để lâu không chữa thành bệnh trưng hà (ung
thư).
8-Mạch
Trầm Trì : Ở khí khẩu là lý hàn, huyết lạnh trong tạng phủ đọng lại do khí trệ
không đẩy huyết lưu thông được .
9-Mạch
Trầm Huyền : Trong bụng lạnh đau từ hoành cách mô xuống bụng do hàn khí.
10-Mạch
Trầm Cách : Do chứng ứ huyết và dịch chất trong người .
11-Mạch
Trì Sác : Do khí thấp và nhiệt đình trệ trong người làm ra bệnh ợ chua, nổi hòn
cục trong bụng, ấn thấy đau, để lâu thành ung thư .
12-Mạch
Trì Kết : Dưỡng trấp không hóa huyết mà biến thành đàm.
13-Mạch
Sác,Tế vô lực : Bệnh âm suy bại, nếu ở Nhân nghinh là Tim, gan,thận suy .
14-Mạch
Huyền Khẩn : Do khí lạnh đọng ở kinh lạc làm thành bệnh tích tụ ung bướu trong
người.
15-Mạch
Huyền Trường : Bệnh tích tụ trong tạng phủ ngày nay gọi là ung thư .
16-Mạch
Khẩn Trầm : Đau bụng do hàn khí kết đọng ở trường vị .
17-Mạch
Khẩn Phù : Trong phổi có nhiều hơi nước.
18-Mạch
Hoạt ở Khí khẩu : Do uống nước nhiều không tiêu đọng lại thành đàm dãi.
19-Mạch
Hoạt Phù : Bụng trên bụng dưới đau dữ dội .
20-
Mạch Hoạt Tán : Đàm nhiều do ứ nước, ít huyết, sẽ bị bán thân bất toại vì đàm
theo huyết làm tắc tuần hoàn, trước khi bị bán thân bất toại, nửa bên người da
thịt ấm, nửa bên da thịt lạnh không cảm giác.
21-Mạch
Phục ở Xích bộ: Báo cho biết có hàn khí tích tụ sẽ làm ra dạng bệnh ung thư
hàn
22-Mạch
Tế :Hàn khí và thấp khí đọng ở phủ tạng và huyết mạch sinh đầy trướng .
23-Mạch
Tế Khẩn : Khí huyết hàn thấp trong người tích tụ gây ung thư, trước khi bị ung
thư có triệu chứng thần kinh co rút làm đau lưng mình mẩy, nếu thấy mạch này ở
khí khẩu là do khí huyết đều hư biến thành đàm dãi đóng ở ngũ tạng.
24-Mạch
Kết Phù : là Hàn tà đọng ở kinh lạc.
25-Mạch
Kết Trầm : Đàm ẩm hoặc huyết ứ đọng lại làm kinh mạch không thông.
26-Mạch
Kết Hoãn : Trong người kết đọng hàn khí nhiều đàm tích tụ trong tạng phủ làm
thành bệnh ung thư .
27-Mạch
Trì, Hoãn, Sắc : Bao tử kết hàn thành cục.
28-
Tâm bộ có Mạch Phù Trì : Hàn tà làm đau bụng dưới.
29-Tâm
bộ có Mạch Phù Tuyệt :Bụng dưới rốn đau do tỳ hàn thành bệnh ung thư .
30-Tâm
bộ có Mạch Trầm,Tế, Hoạt : là thủy khắc tâm hỏa , bệnh nặng khó chữa.
31-Tâm
bộ có Mạch Trầm Khẩn :Thận thủy có tà khí tràn lên khắc tâm hỏa làm đáy tim nở
lớn, gây đau tim .
32-Tâm
bộ có Mạch Trầm Phục : Khí tích tụ ở 2 kinh Tâm Phế làm tắc nghẽn tim ngực do
nhiều đàm chặn dưới tim vì dưỡng trấp không lên tâm phế hóa huyết mà bị đình trệ
biến thành đàm .
33-Can
bộ có Mạch Trầm Phục : Khí lạnh nhập huyết làm tuần hoàn huyết chậm lờ đờ không
ra đến đầu chi nên ngón chân tay khó co duỗi.
34-Thận
bộ có Mạch Phù Sắc : Thận hư do khí lạnh vào thận khiến thận nở to, làm sưng dái
.
35-Thận
bộ có Mạch Phù Đại : Hàn tà thấm vào Tiểu trường làm ra chứng sa đì, xệ âm nang,
đi tiểu ra có mùi khắm.
36-Thận
bộ có Mạch Trầm Trì :Thận lạnh đi tiểu luôn làm tinh khí bạc nhược, đàn bà bị
huyết kết ứ ở tử cung làm ung thư tử cung.
37-Thận
bộ có Mạch Trầm Huyền : Bao tử lạnh không khắc chế được thận thủy nên tà thủy
đọng lại ở hạ tiêu làm đau bụng dưới, sưng tuyến tiền liệt, phù thủng chân.
38-Thận
bộ có Mạch Trầm Thực : Âm khí tụ ở hạ tiêu sinh trùng hay đóng cục cứng ở bụng
dưới làm thành ung thư.
39-Thận
bộ có Mạch Trầm Sác : Thận hư không đem khí vào Tam tiêu dẫn vào trường vị để
làm ấm trường vị giúp tiêu hóa tốt cho nên bụng lạnh khiến bụng sôi kêu như
sấm.
40-Phế
bộ có Mạch Phù Trì : Phổi bị lạnh, đàm kết ở ngực, ăn uống khó tiêu, đi tiêu
chảy.
41-Phế
bộ có Mạch Phù : khí phế kém nên dưới tim có nước và có nước trong màng
phổi.
42-Phế
bộ có Mạch Trầm Trì : Ăn uống khó tiêu sinh đàm nhiều. Phế hàn, kỵ thức ăn có
chất béo, cam, chuối, bơ, sữa, dừa, và uống nhiều nước sẽ tạo thành đàm hay khạc
đàm lâu dần làm phế khí suy giảm.
43-Phế
bộ có Mạch Trầm, Khẩn, Hoạt : Phế bị phong hàn tà hoặc do thức ăn biến thành
đàm, ho đàm khò khè.
44-Tỳ
bộ có Mạch Phù Trì : Tỳ vị hư hàn đầy trướng, vỗ bụng kêu bồm bộp.
45-Tỳ
bộ có Mạch Phù Sắc : Tỳ vị hư hàn ăn uống không tiêu đọng lại trong bao tử .
46-Tỳ
bộ có Mạch Phù Khẩn :Bụng đầy lạnh, đau sôi bụng luôn.
47-Tỳ
bộ có Mạch Phù Hư : Bao tử có hàn khí không đủ nhiệt độ chuyển thức ăn hóa khí
nuôi phế, nên làm cho phổi yếu, ngắn hơi, khó thở.
48-Tỳ
bộ có Mạch Trầm Sác : Trầm thuộc hàn, Sác thuộc nhiệt, hàn nhiệt xung khắc trong
tỳ vị làm mất chính khí nuôi tạng phủ sinh mệt mỏi ưa nằm, ăn rồi lại ói ra,
miệng hôi, chân răng chảy máu, sờ bụng có chỗ đau.
49-Tỳ
bộ có Mạch Trầm Trì : Do ăn nhiều rau quả sống sít lạnh làm khó tiêu đọng lại
thành tích tụ đau bụng sinh đàm khiến bụng trương phình, khó thở, ngắn hơi,
biếng ăn.
50-Tỳ
bộ có Mạch Trầm Phục : Âm khí uất kết thành khối u trong bụng làm thành ung thư
bao tử, lá mía .
51-Tỳ
bộ có Mạch Trầm Sắc : Tâm hỏa suy kém không nuôi tỳ thổ để khí hóa thức ăn khiến
bụng đầy biếng ăn hay nôn oẹ .
52-Tỳ
bộ có Mạch Trầm Nhu :Tỳ vị lạnh sinh kém hơi làm suy phế khí thành suyễn.
53-Tỳ
bộ có Mạch Trầm, Nhược, Hoạt :Hạ tiêu lạnh làm chân lạnh chuột rút.
54-Mệnh
môn bộ có Mạch Phù Huyền : Nước uống vào bị đọng lại trong bụng dưới làm quặn
đau .
55-Mệnh
môn bộ có Mạch Phù Hoạt : Đàm hỏa nhiều làm hại kinh Tam tiêu làm ra chứng đi
cầu khát nước nhưng càng uống nước nhiều càng sôi bụng.
56-Mệnh
môn bộ có Mạch Trầm Trì : Mệnh môn hỏa suy làm đại tiện lỏng nát, tiểu ra nước
trong mà đi tiểu hoài rút nước của cơ thể sinh hao mòn vì thận không lọc và điều
hòa nước .
57-Những
người có bệnh thủy thủng, người xanh nhợt hay trắng bệch, không khát, đi cầu
luôn, nước tiểu trong khó đi, thuộc âm chứng, có mạch Trầm,Trì,Sắc .
58-Bệnh
đau nhức ống chân không phải do thấp, do nhiệt mà do hàn tà có Mạch Trì.
59-Do
uống nước nhiều qúa cho nên đàm ngấm vào cơ thể gây bế tắc khí huyết, sờ tay nơi
bụng nổi cục cứng rắn chắc, có Mạch Sắc, Tán .
60-Nước
tiểu trong do thận hàn không khí hóa để hoàn thành chức năng lọc có Mạch Hư,
Đại.
61-Bướu
trong ngực có Mạch Thốn Trầm, Phục, Tế.
62-Bướu
ở cổ, Thốn bộ có Mạch Vi.
63-Bướu
ở cuống bao tử dưới rốn ở Quan bộ có Mạch Vi.
64-Đáy
tim lớn có Mạch Vi ở giữa Quan Thốn bộ.
65-Bướu
ở Tiểu trường , Quan bộ có Mạch Vi .
66-Bướu
ở trên háng thuộc bộ sinh dục nam nữ, ở Xích bộ có Mạch Vi. Xích bộ 1 bên có
bướu 1 bên như buồng trứng, cả hai xích bộ có Mạch Vi có bướu ở giữa như cổ tử
cung, tử cung.
67-Ung
bướu gan, ở Quan bộ có Mạch Huyền Tế.
68-Ung
thư hay bướu phổi, phế bộ có Mạch Phù Tế.
69-Bướu
thận có Mạch Trầm Hoạt.
70-Sưng
Tâm bào, nghẹt động mạch vành ở Tâm bộ có mạch Trầm, Khâu.
71-Ung
thư lá mía hễ ăn vào là mửa ra ngay, Tỳ bộ có Mạch Thực Trường. Mạch Kết Vi thì
kết tích nhỏ, Mạch Kết Phù Đại thì bướu lớn.
72-Bệnh
suyễn cấp do ứ nước trong phổi có Mạch Trầm Phục Thực Hoạt. Nếu chân tay ấm Mạch
Hoạt còn chữa được, chân tay lạnh mạch Phù Sác, ra mồ hôi như dầu, dù có rút
nước phổi ra cũng khó sống.
73-Bệnh
Phong Thủy sợ gió sợ nước làm xương khớp đau nhức, phong tổn thương da lông,
thấp thủy chảy vào các khớp làm sưng đau, có Mạch Phù.
74-Bệnh
Bì Thủy do nước chảy trong da hợp với phế khí làm bụng to như cái trống mà không
cứng chắc vì bệnh chỉ ở ngoài da không phạm nội tạng nên không bị suyễn có Mạch
Phù
75-Bệnh
Chích Thủy là nước của thận nhiều gây ra suyễn, có Mạch Trầm, Trì do dương hư
thận thủy xâm nhập thượng tiêu.
76-Bệnh
Thạch Thủy do âm thịnh thủy chỉ kết tụ ở bụng dưới không vận hành nên không xâm
nhập thượng tiêu làm thành suyễn, có Mạch Trầm
77-Bệnh
Hoàng Hãn mồ hôi vàng thấm ướt áo, người sốt, ngực đầy, tay chân mặt sưng do
thấp nhiệt, có Mạch Trầm Trì, bệnh để lâu không chữa sẽ làm ung mủ.
78-Bệnh
Lý Thủy, toàn thân sưng vàng, tiểu không thông có Mạch Trầm, tùy theo thủy tích
ở tạng nào như : Tâm bị thủy, mình nặng, khó thở, không nằm được, người phiền,
khô khát, sưng bộ sinh dục.
Can
bị thủy,hông và bụng to không xoay trở được, tiểu tiện lúc được lúc không.
Phế
bị thủy, mình sưng, tiểu khó, iả cứt vịt.
Tỳ
bị thủy, bụng to, tứ chi nặng nề, khó thở, tiểu khó.
Thận
bị thủy, bụng to, rốn sưng, đau eo lưng, bộ sinh dục ẩm ướt có mồ hôi, thủy là
âm, thận là âm, hai khí âm hợp nhau làm dương khí không vận hành khiến chân
lạnh, thượng tiêu thiếu dương khí nên gầy ốm.
79-Tâm
trúng hàn làm trong người khó chịu, nặng thì như có trùng bò qua bò lại từ tim
tới lưng đau thấu từ bên này sang bên kia, có Mạch Phù
80-Tỳ
trúng hàn, người không vui, hay thở dài, người lạnh, sợ lạnh, bụng đau ăn vào ói
ra, đuối sức dần, có Mạch Phù, nếu mạch Phù Đại là vị khí tuyệt tạng tỳ
chết.
81-Thận
trúng hàn thân thể nặng nề, eo lưng lạnh như ngồi trong nước, có Mạch Phù.
.C-Những
bệnh không được uống nhiều nước được kiểm chứng bằng huyệt :
Theo
xét nghiệm của tây y cũng dựa trên âm dương thủy hỏa, hư thực, hàn nhiệt giống
đông y nhưng dưới tên gọi khác là sự thẩm thấu dư hay thiếu của Natri, Kali theo
tiêu chuẩn có trong huyết và trong nước tiểu, cùng chất điện giải là tên gọi
khác của một loại phản ứng chuyển hóa của âm dương thủy
hỏa trong đông y .
Cả
hai phương pháp khoa học và cổ điển đều có ưu điểm là chính xác nhưng khuyết
điểm là tốn kém tiền bạc thời giờ và mất nhiều máu để thử nghiệm theo tây y,
hoặc khuyết điểm của đông y là không có nhiều Thầy thuốc kinh nghiệm bắt mạch
giỏi phân biệt được rõ ràng những biến đổi âm dương mất quân bình trong cơ thể
qua sự chẩn đoán bằng mạch . Do đó đông y cổ đại đã bổ sung phương pháp chẩn
đoán bệnh bằng huyệt, mỗi tên huyệt cũng đã nói lên được chức năng chuyển hóa âm
dương, khi bấm vào huyệt cảm thấy đau nhiều là bệnh thực, không đau là bệnh hư
.
Riêng
những huyệt khám để tìm xem cơ thể mình có dư thừa nước ở tạng phủ nào hay không
đều dựa thiêu sự chuyển hoá của Tam tiêu phần thượng tiêu thuộc ngực và bụng
trên khám tim phổi, phần trung tiêu thuộc bụng giữa khám tiêu hóa, hấp thụ của
bao tử, lá mía, gan, mật, ruột non, phần hạ tiêu thuộc ruột gìa, thận, bang
quang, sinh dục . Những huyệt này, chúng ta ai cũng có thể tự khám cho mình được
dễ dàng.
1-Huyệt
Chiên Trung (huyệt thứ 17 cũa Mạch Nhâm, viết tắt MN.17) :
Huyệt
nằm giữa ngực giao điểm của đường nối 2 núm vú ,là huyệt bảo vệ tim, phổi nơi
vinh vệ khí đi qua .Vừa là huyệt khám vừa là huyệt chữa những bệnh hư thực làm
ra bệnh viêm màng ngực, suyễn khó thở, đau ngực, khí uất, tắc đàm…
Nếu
phổi hoặc màng phổi có nước, đặt tay vào huyệt nghe được hơi thở khò khè có bọt
nước chuyển động theo hơi thở.
2-Huyệt
Cự khuyết (MN.14)
Cự
là to lớn, Khuyết là cổng vào, cửa vào to lớn, Tâm khí chảy vào tim qua huyệt
này, vị trí ¼ tính từ mỏm xương giao điểm 2 bờ sườn xuống rốn.
Huyệt
để khám và chữa, bấm vào bị đau là có bệnh ợ chua đau bụng, nôn mửa, viêm màng
ngực, màng ngoài tim, co thắt bao tử.
3-Thượng
quản (MN.13)
Huyệt
để khám thượng vị, bao tử phía trên, vị trí 5/8 trên đường từ rốn lên giao điểm
2 bờ xương sườn.
Huyệt
để khám và chữa, bấm vào đau dưới huyệt có một khối cứng khi đè chạy qua chạy
lại, đông y gọi là bôn đồn (heo con chạy do thủy khí từ thận xông lên) tích ở
vị, hay phục lương (hòn khối khí hay nước) tích ở tim là có bệnh no hơi, viêm
bao tử, đau tim, lá mía, nôn mửa.
4-Huyệt
Trung quản (MN.12)
Huyệt
khám và chữa bao tử, vị trí trung điểm từ giao điểm 2 bờ sườn đến rốn . Đè vào
đau do ăn no, do đầy hơi, không tiêu, nôn mửa, sình bụng, tắc ruộ, huyết áp cao
do tiêu hóa kém, đau tim mình lạnh do dư nước không chuyển hóa, dật ẩm (do uống
nước bị ứ đọng thành những bọc nước trong bụng trên) khó cúi ngửa.
5-Huyệt
Hạ quản (MN.10)
Vị
trí ¼ trên đường từ rốn lên giao điểm 2 bờ sườn . Huyệt khám và chữa tích trệ
trướng hơi trướng nước, sa xệ trường vị, bụng có chứa nước không chuyển hóa nên
không không vào, người gầy ốm…
6-Huyệt
Thủy phân (MN.9)
Vị
trí 1/8 từ rốn lê giao điểm 2 bờ sườn. Huyệt phân lọc nước đua xuống bàng quang.
Bấm vào đau là do nước tích tụ không chuyển hóa làm nôn mửa, cổ trướng, ỉa chảy,
viêm thận, phù thủy thủng…
7-Huyệt
Âm giao (MN.7)
Vị
trí 1/5 từ rốn xuống đỉnh xương mu, nơi các âm kinh giao hội. Bấm vào huyệt đau
là nước không chuyển hoá thoát ra ngoài cơ thể làm đau tức bụng dưới, co thắt
rút lưng gối, đau lạnh quanh rốn, đau do thoát vị…
8-Huyệt
Khí hải (MN.6)
Vị
trí 1,5/5 (một đoạn rưỡi trên 5 ) tính từ rốn xuống đỉnh xương mu, còn gọi là
Đan điền khí hải ( biển khí).
Bấm
vào đau là có bệnh thiếu tắc khí do thoát vị, các loại bệnh âm chứng phong hàn
thử thấp, phù thủng, tim ngực phình căng, các lại bướu trong bụng .
Còn
rất nhiều huyệt để khám tìm và xác định bệnh nước không chuyển hoá dù uống nhiều
hay ít, thuộc bệnh lý đối với cơ thể mỗi người khác nhau . Chúng ta nhận thấy
bấm các huyệt trên đều thấy có những túi nước nhỏ tích chứa trong bụng thuộc
thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu .Do đó chúng ta không cần biết chính xác vị trí
huyệt để chữa, vì chữa ngay trên huyệt đó là chữa ngọn, còn phải phối hợp huyệt
để chữa gốc nguyên nhân gây ra bệnh , và chữa ngừa biến chứng. Chúng ta chỉ cần
vuốt bụng đè ấn xuống sâu 1cm vuốt từ mỏm xương ức xuống Khí hải bụng dưới, cảm
thấy đau, nghe tiếng nước chảy từ gan, dưới tim, màng ngực, bên cạnh sườn bao
tử, lá mía, ruột và có những khối u nhỏ di chuyển không tan , chứng tỏ cơ thể
chúng ta bị tích trệ không chuyển hóa nước, nếu không biết cứ tiếp tục uống nước
theo thói quen của khoa học chúng ta sẽ bị bệnh năng hơn như trường hợp dưới đây
mà tôi đã chứng kiến không chữa được đi đến tử vong , bài trước kia đã được đăng
lên diễn đàn với tựa đề : Những tai hại của bệnh uống nhiều
nước. Những điều mình biết qua kinh nghiệm mà không nói ra cho mọi người
biết để phòng ngừa khiến cho lương tâm thầy thuốc áy náy vô cùng. Đã có một vị
thiền sư nói : Chúng sinh không muốn hết
bệnh , ngài nói là do thiếu sáng suốt, tâm không cởi mở, cố
chấp ở sở tri kiến, si mê, vọng cầu ở những phương pháp cầu kỳ mà không tin vào
những gì đơn giản. Do đó tôi xin mạn phép diễn đàn đăng lại
bài Những tai hại của bệnh uống nhiều nước mà
trước kia mọi người cho rằng bài viết này không có cơ sở của đông tây y.
Những
tai hại của bệnh uống nhiều nước
Tất
cả các bệnh đều do sự tuần hoàn khí huyết không bình thường như :
a-
Khí huyết dư thừa làm ra các bệnh thực chứng đau tại một nơi nào đó .
b-
Khí huyết thiếu không đủ tuần hoàn đi khắp cơ thể tại một nơi nào đó làm ra bệnh
hư chứng.
c-
Khí huyết bị tắc kẹt không thông làm tụ lại một chỗ làm sưng đau hay bướu…
Thí
dụ khi chúng ta bị đau hông bên phải mà đi khám tây y không tìm ra được bệnh gì,
kết quả thử nghiệm cái gì cũng tốt, kết luận là khoẻ mạnh không bệnh tật, nhưng
thỉnh thoảng đau, chúng ta phải nghĩ ngay đến gan có bướu nước do tích chứa nước
bên trong thỉnh thoảng bị nghẹt không lưu thông, nguyên nhân do uống nhiều nước
dư thừa không chuyển hóa, tây y gọi là ngộ độc nước, có nghĩa là uống nhiều nước
theo tây y để lọc máu, giải độc, thay vì uống 2 lít nước sạch để giải độc máu
thì đi tiểu ra cũng phải 2 lít nước bẩn, và trọng lượng cơ thể không tăng mới
đúng. Nhưng nhiều người không để ý uống nước vào 2 lít, đi tiểu ra 1,8 lít, còn
giữ lại trong người 0,2 lít nước bẩn mỗi ngày, bị hệ thống miễn nhiễm trong cơ
thể cô lập bằng một lớp mỡ tam tiêu bao bọc bên ngoài để không cho bướu nước độc
thấm vào máu mới hình thành bướu lành. Khi những người uống nhiều nước mà thấy
lên cân không phải do ăn nhiều là đã uống dư thừa nước làm thành bệnh, nhất là
mấý phụ nữ tây phương, họ thường hỏi tôi là : sao tôi ăn rất ít (diet) mà cứ mập
ra nhưng bệnh chứ không khỏe, áp huyết cao, mệt tim, khó thở… Đó là hậu qủa của
uống nhiều nước bị ngộ độc nước tạo ra nhiều khối u bướu lành trong cơ thể. Khi
những bướu này nhiều liên kết tập hợp lại với nhau phát triển to ra có thể đè
vào các cơ quan tạng phủ như gan, mật, lá lách, thận, bọng đái, ruột…làm bí
tiểu, bí ỉa, gan lách sưng. Tây y sẽ chữa loại bệnh này như một loại cancer phải
trị liệu bằng chemotherapy .
Có một trường hợp một bệnh
nhân có các khối nước bẩn này kết khối trưóc bụng trên sờ tay vào như một con
rùa nằm trong bụng đè vào gan, lách, thận, thấy khó thở, nhưng vẫn khỏe mạnh, tự
đi vào nhà thương khám, bác sĩ cho nhập viện, bác sĩ ban đầu cho thuốc tấn công
vào cancer gan nhưng khi chụp hình khối u vẫn phát triển, lại nghi là cancer
tuyến thượng thận cho thuốc tấn công vào tuyến thượng thận nhưng cũng không
phải, và khối u cứ lớn ra do độc tố bị giữ lại trong khối nước độc, qúa to đè
vào bàng quang chặn lỗ tiểu, bị bí tiểu , dùng lasix mỗi ngày mà nước tiểu cũng
không ra, trong khi đang truyền sérium và thức ăn bằng đường bụng nên bụng càng
trương cứng . Bác sĩ dự trù tấn công cancer 24 lần chemotherapy, lần thứ 12 bệnh
nhân hôn mê, toàn thân mặt, bụng, chân tay sưng to phù nước, các bác sĩ điều trị
giải thích cho người nhà là đã dùng những trụ sinh mạnh để tấn công cancer nhưng
không thể nào thuốc vào được khối u vì không có đường máu nào dẫn thuốc đến
được, chung quanh là mỡ bao khối u không dính vào cơ quan tạng phủ nào, nếu có
cách nào làm cho khối u nhỏ lại là thành công, người nhà đề nghị mổ lấy khối u
ra .Các bác sĩ hội chẩn và cho biết khối u qúa lớn không mổ, dù có mổ cũng không
sống được vì tế bào gan thận đã bị chemotherapy làm hư hoại hoàn toàn.
Có
thể bệnh nhân này trước sau gì cũng chết nên đã trở thành bệnh nhân để thí
nghiệm nên vẫn tiếp tục điều trị chemotherapy xem liều tối đa mà bệnh nhân có
thể chịu đựng được là bao nhiêu lần, khi đến liều thứ 18 áp huyết bệnh nhân tụt
thấp dần xuống còn 70/45mmHg, người thoi thóp, chân tay lạnh, mặt tím dần, cuối
cùng đành phải rút ống thở vĩnh biệt thế gian trong độ tuổi xuân mà trước đó 3
tháng vẫn khỏe mạnh đi làm đi chơi rất bình thường không bệnh tật. Môt cái chết
oan uổng vì tây y chưa rõ bướu này thuộc loại cancer nào trong nội tạng, nhưng
tấn công bướu thì cứ tấn công chỉ biết rằng khó chữa vì không có đường dẫn thuốc
đến bưóu và loại cancer này chưa có sách vở tài liệu nào nói đến.
Ở
đây tôi muốn nói đến hậu qủa của thói quen uống nhiều nước mà không biết cơ thể
có hấp thụ và chuyển hóa được hay không. Qúy vị nên tự kiểm soát, nằm ngửa, dùng
ngón tay vuốt đè từ mỏm xương ức xuống đến rốn, khi vuốt đè thì thở ra cho bụng
mền lại, mới đầu vuốt thì không nghe có cảm giác gì nhưng vuốt đến hàng trăm lần
sẽ nghe được tiếng nước chảy từ hông sườn trái ở lá mía, ở bao tử, và hông sườn
phải ở lá gan và ở dưới đáy tim và ờ màng phổi dưới tim nước chảy xuống bụng
dưới theo đường vuốt, và có những người vuốt cảm thấy đau khi ngón tay đi qua
những khối u nhỏ là những túi nước bị màng mỡ tam tiêu ở bụng bao lại, có người
có 1-2 cục, có người có mười mấy cục to cứng rải rác tử bụng trên xuống đến hai
bên rốn nằm ngoài ruột, tây y đã cho là cancer, và những bệnh nhân này từ chối
không điều trị chemotherapy mà đi tập khí công, và họ vuốt như vậy mỗi ngày bướu
nước được dồn xuống thấm vào bàng quang để chuyển hóa theo nước từ ruột già thấm
vào bàng quang trôi theo đường tiểu . Những bướu nước lớn làm ảnh hưởng áp huyết
cao và nhịp tim đập nhanh, sau khi vuốt áp huyết ổn định, tim đập chậm lại bình
thường, ăn uống được chuyển hóa tốt và đã khỏi bệnh, một loại
bệnh không tên do hậu quả của thói quen uống nhiều nước không chuyển
hoá.
Qúy
vị nên thường xuyên tập bài Nạp khí trung
tiêu sẽ làm tiêu những bướu nước tích tụ trong nội tạng và
các bướu nước trong ổ bụng do màng mỡ tam tiêu bao lại, sau đó
tập Tĩnh công thiền để tăng cường hệ
miễn nhiễm phòng chống bệnh tật.
doducngoc


15:47
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét